Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Chiều tối của Hồ Chí Minh. Tuy văn chương không phải là sự nghiệp chính của cuộc đời nhưng với di sản thơ ca phong phú để lại cho đương thời và hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hóa lớn
Sau đây là tổng hợp các bài văn mẫu về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang hay và chi tiết sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các bạn. 8 mẫu phân tích 2 khổ đầu bài Tràng giang hay chọn lọc; 4 mẫu cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang hay chọn lọc
Cổ điển và hiện đại Giao thoa giữa cũ và mới trong ý tưởng thiết kế đã tạo cho căn hộ vẻ đẹp đặc biệt đầy ấn. một căn hộ đậm chất mùa đông với hai gam màu đối lập, gam màu trầm tối và những mảng trắng tinh khiết.
Phân tích vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh. 1. Dàn ý phân tích vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại. a. Mở bài: – Chiều tối là bài thơ được Bác Hồ viết trên đường đi chuyển lao đầy gian khổ và khó khăn. Bài thơ
Home » Sách ngoại ngữ » Từ điển » [Tải ebook] (Bìa cứng, đóng hộp giấy, mạ vàng, 1918 trang) ĐẠI TỰ ĐIỂN HÁN VIỆT – HÁN NGỮ CỔ VÀ HIỆN ĐẠI (Xuất bản lần đầu năm 2022) – Trần Văn Chánh – Công ty sách Thời Đại – NXB Hồng Đức PDF
5R2mb. Phong cách hiện đại và tân cổ điển là hai xu hướng thiết kế nội thất được ưa chuộng nhất hiện nay. Mỗi phong cách đều mang trong mình những nét đặc trưng rất riêng, khiến người nhìn phải yêu thích và ấn tượng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Bạn có đang phân vân lựa chọn một trong 2 phong cách nội thất này? Nếu đúng là như vậy, bạn nên tham khảo bài viết này để hiểu rõ sự khác biệt của phong cách hiện đại và tân cổ. Sau đó, hãy đưa ra quyết định phong cách thiết kế nội thất phù hợp với tổ ấm của mình nhé! Phong cách nội thất hiện đại là gì? Thiết kế hiện đại nổi bật với đường nét tối giản, gọn gàng Phong cách thiết kế nội thất hiện đại lấy cảm hứng từ một phong trào thẩm mỹ rất được ưa chuộng vào đầu thế kỷ XX. Hiện nay có nhiều người vẫn còn nhầm lẫn phong cách “thiết kế hiện đại” với “thiết kế đương đại”. Nhưng trên thực tế, phong cách hiện đại sở hữu những dấu ấn riêng biệt, hoàn toàn tách khỏi phong cách đương đại như mọi người thường lầm tưởng là giống nhau. Điểm đặc trưng của phong cách thiết kế hiện đại là bảng màu đơn sắc với những đường nét gọn gàng và tối giản hết mức có thể. Bên cạnh đó, phong cách này đề cao việc sử dụng những đồ dùng nội thất làm từ vật liệu tự nhiên và tận dụng ánh sáng ngoài trời để mang lại sự sáng sủa và thoáng đãng cho không gian. Phong cách nội thất tân cổ điển là gì? Phong cách tân cổ điển với phào chỉ uốn lượn mềm mại tạo nét hấp dẫn cho không gian Phong cách thiết kế tân cổ điển nói ngắn gọn là một sự biến tấu, giản lược từ phong cách cổ điển. Trước đây, phong cách cổ điển gắn liền với quý tộc Châu Âu nên rất được ưa chuộng. Thế nhưng sự rườm rà của không gian cổ điển thường mang đến cảm giác nặng nề, không còn phù hợp nữa. Để cải thiện vấn đề này, phong cách tân cổ điển đã ra đời, đảm bảo tính sang trọng nhưng vẫn mang lại cảm giác thư giãn cho người nhìn. Thiết kế tân cổ điển gây ấn tượng nhờ việc phân chia các mảng tường, ô theo một tỷ lệ vàng. Những ô tường, phào chỉ trang trí không chỉ có tác dụng tạo điểm nhấn mà còn mang lại một vẻ ngoài sang trọng và hài hòa cho không gian. Những điểm khác biệt giữa phong cách nội thất hiện đại và tân cổ điển – Những lưu ý cần biết Mỗi phong cách thiết kế đều sở hữu những nét đặc trưng riêng và hai phong cách này cũng không ngoại lệ. Bạn có thể nhận biết được điểm khác biệt cùng những lưu ý khi lựa chọn phong cách nội thất hiện đại và tân cổ điển qua không gian thiết kế, màu sắc, đường nét hoa văn và chất liệu nội thất được sử dụng trong từng phong cách thiết kế. Thiết kế nội thất phong cách hiện đại Phong cách hiện đại chuộng lối thiết kế tự do, sáng tạo Nét đặc trưng trong thiết kế nội thất theo xu hướng hiện đại được thể hiện qua những yếu tố sau Không gian thiết kế Không gian thiết kế theo kiểu hiện đại luôn hướng đến sự tự do, đề cao tính sáng tạo và không cần tuân thủ theo bất kỳ một quy tắc nào cả. Dễ thấy nhất là sự tối giản trong bố cục hình khối không gian và mặt bằng phi đối xứng. Hoàn toàn khác hẳn so với lối thiết kế tân cổ điển yêu cầu sự cân bằng đối xứng, nhiều chi tiết rườm rà, cầu kỳ. Màu sắc Về màu sắc, phong cách hiện đại chuộng gam màu trung tính như trắng, be, nâu, đen nhưng không bắt buộc phải dùng hoàn toàn những gam màu này. Bạn có thể phá cách bằng cách kết hợp nhiều gam màu nổi hơn để tạo sự ấn tượng. Miễn sao phải đảm bảo được sự hài hòa trong tổng thể để không gây khó chịu khi nhìn vào. Đường nét hoa văn, hoạ tiết Các hoa văn, họa tiết dùng trong nội thất hiện đại đều được tinh giản về đường nét, không có những đường uốn cong mềm mại như tân cổ điển. Thay vào đó là những đường góc cạnh rõ ràng mà bạn có thể dễ dàng nhìn thấy trong không gian. Đường nét hoa văn nội thất hiện đại được tinh giản rất nhiều Vật liệu nội thất Đối với vật liệu nội thất, phong cách hiện đại sử dụng vật liệu mang hơi thở hiện đại, tối giản. Chúng có thể là đá hoa cương, da, kim loại hoặc gỗ. Nhưng nhìn chung, các đồ nội thất được làm từ những vật liệu này đều có kiểu dáng đơn giản nhưng mang đầy sự tinh tế và sang trọng. Với những nét đặc trưng kể trên, thiết kế nội thất phong cách hiện đại phù hợp với người trẻ thích sự phóng khoáng, cởi mở, mong muốn có một không gian sống tối giản, tiện lợi và đầy đủ các công năng cần thiết phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt. Phong cách nội thất tân cổ điển Phong cách tân cổ điển hướng đến sự sang trọng và tinh tế Muốn phân biệt phong cách nội thất hiện đại và tân cổ điển không phải là khó. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nét đặc trưng trong phong cách thiết kế nội thất tân cổ điển được thể hiện qua những yếu tố sau Không gian thiết kế Không gian trong thiết kế nội thất tân cổ điển có sự phân chia hình khối nhằm duy trì tính đối xứng và sự hài hòa. Sự cân bằng giữa trần nhà, vách tường và đồ dùng nội thất chính là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên vẻ đẹp sang trọng nhưng không kém phần tinh tế cho không gian sinh hoạt. Phong cách tân cổ điển phân chia hình khối tạo sự đối xứng và cân bằng cho không gian Màu sắc Trong thiết kế tân cổ điển, gam màu tối tượng trưng cho giới quý tộc thời xưa như xám, đen, rêu, đỏ booc-đô được sử dụng rất nhiều. Tuy nhiên, điểm đặc biệt ở đây là các gam màu sáng như trắng, kem cũng được kết hợp trong nội thất tân cổ điển. Chính điều này đã tạo nên sự phá cách, riêng biệt nhưng vẫn giữ được sự sang trọng và tinh tế vốn có. Đường nét hoa văn, hoạ tiết Các hoa văn, họa tiết của phong cách tân cổ điển thường sẽ được trau chuốt với đường nét vô cùng tỉ mỉ và tinh xảo nhưng không bị lạm dụng quá nhiều mà chỉ vừa đủ nhằm tạo điểm nhấn cho không gian. Đồng thời, cũng tạo nên sự mềm mại, thanh thoát hơn cho căn nhà. Các đường nét, hoa văn nội thất tân cổ điển được trau chuốt tỉ mỉ Vật liệu nội thất Nội thất tân cổ điển sang trọng, tinh tế Nội thất trong thiết kế tân cổ điển thường được ưu tiên sử dụng những loại vật liệu cao cấp như gỗ tự nhiên, da và đá hoa cương với kiểu dáng sang trọng. Thêm vào đó, những đồ dùng làm từ chất liệu lông, lụa, nỉ…cũng rất được ưa chuộng trong thiết kế tân cổ điển. Những loại vật liệu này mang lại đẳng cấp không chỉ vì giá tiền mà còn bởi sự tinh tế và cẩn thận trong quá trình gia công để cho ra thành phẩm hoàn hảo nhất. Đây chính là thứ thể hiện được đẳng cấp và trình độ thưởng thức của gia chủ. Chính vì những đặc trưng nêu trên, thiết kế nội thất tân cổ điển phù hợp với những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu hoặc thượng lưu giàu có. Những gia chủ có gu thẩm mỹ tốt và sở hữu được địa vị nhất định trong xã hội thì mới có thể “ngẫm” được những giá trị nghệ thuật mà phong cách này mang lại. Trên đây là thông tin về hai phong cách thiết kế rất được ưa chuộng hiện nay là phong cách hiện đại và tân cổ điển. Intehome hy vọng qua bài viết này, bạn sẽ có cái nhìn rõ hơn về hai loại hình thiết kế trên để phân biệt được chúng, đồng thời chọn ra được phong cách phù hợp nhất cho căn nhà của mình.
Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ do Đọc tài liệu tổng hợp và biên soạn gồm những nội dung hướng dẫn phân tích đề, lập dàn ý chi tiết và một số mẫu bài văn hay giúp em tham khảo mở rộng vốn dẫn phân tíchnét cổ điển và hiện đại trong bài Đây thôn Vĩ Dạ Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một đề bài hay được các thầy cô sử dụng cho việc ôn luyện với học sinh giỏi. Trong chuyên mục Văn mẫu 11, Đọc Tài Liệu đã sưu tầm và biên soạn những hướng dẫn chi tiết cũng như những bài văn mẫu hay và hấp dẫn nhất cho các em học sinh tham Phân tích đề- Yêu cầu phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Đây thôn Vĩ Phạm vi tư liệu, dẫn chứng từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Phương pháp lập luận chính phân tích, chứng Hệ thống luận điểm phân tích nét cổ điển và hiện đại trong bài Đây thôn Vĩ Dạ- Luận điểm 1 Nét cổ điển thể hiện ở thể thơ, thi liệu và nhịp điệu thơ- Luận điểm 2 Nét hiện đại ở cách bộc lộ tâm trạng, thời gian nghệ thuật, hình ảnh, xu hướng thơ siêu thực, tượng Lập dàn ý chi tiết nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạa Mở bài- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm+ Hàn Mặc Tử là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.+ Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện Dẫn dắt vấn đề Nét cổ điển và hiện đại trong bài thơ Đây thôn Vĩ Thân bài* Khái quát về bài thơ- Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ điên về sau đổi thành Đau thương, được gợi cảm hứng từ tấm ảnh về phong cảnh Huế và lời hỏi thăm của Hoàng Cúc - người mà Hàn Mặc Tử ôm ấp mối tình đơn phương khi còn làm ở sở Đạc Giá trị nội dung Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.* Phân tích nét cổ điển- Thể thơ 7 tiếng tuân thủ chặt chẽ hiệp vần, đối, Thi liệu lấy tứ từ thơ cổ+ Gió, trăng, thuyền, trúc, bến sông, thuyền,…+ Hình ảnh hàng cau, lá trúc, vườn cây quen thuộc của thôn quê Việt Nam, là tình tự dân tộc trong ca dao và tâm hồn Việt Nam trong thơ cổ Gợi tả, chấm phá "nắng hàng cau", "vườn ai mướt quá xanh như ngọc", khắc họa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tinh khôi của xứ Huế chỉ bằng hai câu Nhịp điệu thơ nhẹ nhàng tạo nên bởi nhịp điệu đều đều chậm rãi của thể thơ thất ngôn 2/2/3 hoặc 4/3 với rất nhiều thanh bằng nằm ở vần thơ.* Phân tích nét hiện đại- Tác giả bộc lộ tâm trạng trực tiếp- Yếu tố tâm lí phức tạp, "điên loạn" thể hiện rõ qua sự thay đổi tâm trạng giữa các khổ thơ, các yếu tố không gian thời gian bị đảo lộn, không theo quy luật khách quan từ gần đến xa từ xa đến gần, không theo dòng chảy của thời gian mà theo dòng chảy của tâm Bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian, mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà thơ.+ Thời gian mở đầu là buổi sớm tinh khôi nhưng đột ngột chuyển sang đêm trăng đầy mong ngóng, lo âu, buồn đến nao lòng và kết thúc trong thời gian mộng ảo, không xác định.+ Không gian trong bài thơ là không gian xứ Huế, cách trở, huyền hồ "mờ nhân ảnh”. Không gian xa xôi, ngăn cách ấy không phải vì không gian địa lí mà đó là sự cách trở của hai tâm hồn, là nỗi niềm thổn thức của Hàn thi sĩ. Không gian ở đây được soi chiếu qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà Những hình ảnh vừa quen thuộc dân dã đã được Hàn Mặc Tử biến trở thành mới lạ hiện đại.+ Không chỉ hàng cau, mà nắng mới trên hàng cau+ Không chỉ khám phá ra những lá non xanh mướt của vườn cây mà còn nhận ra cái màu xanh ngọc sang trọng+ Không nhắc lại ngõ trúc, cành trúc hiu quạnh tĩnh mịch của ngày xưa mà là “lá trúc che ngang mặt chữ điền“- Xu hướng thơ siêu thực, tượng trưng+ Hình ảnh "trăng" không còn là ánh trăng của thi ca cổ điển nữa, nó đã được làm mới qua hình ảnh “sông trăng” toát lên thứ ánh vàng kì lạ, như sáng bừng một góc xứ Huế, sáng dậy một góc trong tâm thức thi sĩ+ Xưa nay mây đi theo gió, gió thổi mây bay, giờ thì gió theo lối gió, mây đường mây, một hình ảnh siêu thực, hình ảnh của chia Nhạc điệu thơ là nhạc điệu của tâm hồn có nhiều trạng thái đặc biệt, kết hợp các từ láy hay chú công trong thanh điệu- Bài thơ có cấu trúc rất lạ sự việc, con người được kể lại không theo bút pháp kể chuyện, sự vận động của hình tượng thơ cũng không phải là nhịp điệu chuyển hoá tâm trạng của nhân vật trữ Mạch phát triển thống nhất nhưng có một bước “nhảy vọt nghệ thuật" giữa các khổ thơ mỗi khổ thơ tồn tại độc lập, không quan hệ với Kết bài- Khái quát lại nét cổ điển và hiện đại của bài Nêu cảm nhận của em cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ DạBài văn mẫu phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ DạNếu Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong tất cả những nhà thơ mới thì Hàn Mặc Tử là nhà thơ lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới. Đọc thơ Hàn thi sĩ ta bắt gặp một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống, yêu thiên cảnh, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng; một khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Trong thơ Hàn, nhiều bài thơ mang khuynh hướng siêu thoát vào thế giới siêu nhiên, tôn giáo… nhưng đó là hình chiếu ngược của khát vọng sống, khát vọng giao cảm với đời."Đây thôn Vĩ Dạ" là bài thơ hay và tiêu biểu nhất cho phong cách tâm hồn thơ Hàn Mặc Tử, bài thơ đã được nhà phê bình Hoài Thanh chọn in trong tập "Thi nhân Việt Nam" 1941. Đây có thể xem là một chủ âm trong cây đàn thơ muôn điệu của Hàn Mặc Tử, là một thi phẩm xuất sắc của thi đàn Thơ mới. Hàn Mặc Tử quan niệm “Ta không nên quên thơ ta là thơ quốc âm, ta phải giữ cái tinh thần Việt Nam của ta. Hơn nữa cái tinh thần phương Đông mà rung cảm tâm hồn người ta là nhờ ở cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thấm thía”. "Đây thôn Vĩ Dạ" cũng theo tinh thần ấy, bài thơ là sự kết hợp giữa nét truyền thống và hiện đại.>>> Hình ảnh thiên nhiên và con người xứ Huế qua Đây thôn Vĩ DạBuổi đầu, để khẳng định cái mới, đề cao Thơ mới, người ta cho rằng Thơ mới đã đoạn tuyệt với thơ cổ. Thực ra, trong quá trình vận động, Thơ mới luôn tiếp nối văn mạch của thơ cổ, tiếp thu tinh hoa thơ cổ. Chịu ảnh hưởng thi ca Pháp nhưng Thơ mới có liên hệ sâu sắc với Đường thi. Trong bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ", yếu tố truyền thống trước hết thể hiện ở thể thơ 7 tiếng tuân thủ chặt chẽ hiệp vần, đối, điệp. Thi liệu lấy tứ từ thơ cổ gió, trăng, thuyền, trúc, bến sông, thuyền,…Hình ảnh hàng cau, lá trúc, vườn cây là hình ảnh của thôn quê Việt Nam. Hình ảnh ấy đã trở thành tình tự dân tộc trong ca dao, và tâm hồn Việt Nam trong thơ cổ điển.“Gió đưa cành trúc la đà"Ca dao“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo“Thơ Nguyễn Khuyến"Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?"Tứ thơ có cái cao rộng trí tuệ của dòng Trường Giang chảy bên trời trong thơ cổ điển vì sông trăng cũng chảy ngang bầu trời, như sông Ngân Hà, vừa có cái ấn tượng thân phận mơ hồ sâu xa của “thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa“ trong thơ Nguyễn Du, lại có cái cảm thức đời thực của những con đò chở khách hay con thuyền đánh cá trở về vào buổi truyền thống trong thơ trung đại được Hàn Mặc Tử vận dụng trong việc gợi tả, chấm phá "nắng hàng cau", "vườn ai mướt quá xanh như ngọc", khắc họa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tinh khôi của xứ Huế chỉ bằng hai câu thơ. Cần chi phải tả nhiều, viết nhiều, ngần ấy thôi cũng đủ cho bạn đọc cảm nhận về thôn Vĩ tươi đẹp trong kí ức nhà điệu thơ nhẹ nhàng, toàn bài thơ luôn duy trì một âm điệu trầm buồn, sâu lắng, rất thích hợp để diễn tả tâm trạng của nhà thơ. Âm điệu này được tạo nên bởi nhịp điệu đều đều chậm rãi của thể thơ thất ngôn 2/2/3 hoặc 4/3 với rất nhiều thanh bằng nằm ở vần thơ. Câu thơ của Hàn Mặc Tử về bến sông trăng và thuyền ai gợi nhớ đến vần ca dao thuyền nhớ bến… bến đợi về có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyềnCa daoVà vì thế nó gợi lên một mối tình thương nhớ, đợi chờ man mác, mơ hồ, bâng khuâng. Toàn bài thơ có 4 từ “ai” đại từ phiếm chỉ cùng xuất hiện trong các câu hỏi tu từ, không chỉ góp phần tạo nên âm điệu lâng lâng, ngỡ ngàng mà còn dẫn hồn người đọc nhớ về một miền dân ca Huế man mác sâu lắng, bồi hồi, thiết tha“Núi Truối ai đắp mà cao,Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?Nong tằm ao cá nương dâuĐò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò…”Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ DạNét hiện đại trong thơ Mới thể hiện rõ ràng nhất ở cách bộc lộ tâm trạng trực tiếp của tác giả. Yếu tố tâm lí phức tạp, "điên loạn" thể hiện rõ qua sự thay đổi tâm trạng giữa các khổ thơ, các yếu tố không gian thời gian bị đảo lộn, không theo quy luật khách quan từ gần đến xa từ xa đến gần, không theo dòng chảy của thời gian mà theo dòng chảy của tâm trạng. Tâm trạng buồn của nhà thơ lại in đậm nỗi buồn, cô đơn của thời đại, khát khao yêu đương chân thành, đằm thắm, sự gắn bó với xứ Huế, một miền đất quê hương... Từ ao ước, đắm say đến hoài vọng, đợi chờ và mơ tưởng, hoài nghi để cuối cùng sầu muộn và bi quan, yếm thế. Tất cả chỉ là những cung bậc khác nhau nhưng cốt lõi vẫn là một nỗi niềm thiết tha giao cảm với đời, với con góc độ không gian - thời gian nghệ thuật, bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong ánh nắng mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cảnh thực; cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo, thực hư xen lẫn vào nhau chập chờn chuyển hóa và hình bóng “khách đường xa” nơi chốn sương khói mông lung, cảnh chìm trong mộng ảo. Không - thời gian nghệ thuật của bài thơ được sáng tạo mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục, bị đứt nối, ngắt quãng cảnh thôn Vĩ vào buổi sớm tinh mơ - cảnh sông nước đêm trăng và cuối bài thơ chỉ còn là thời gian vô thức, không xác định. Thời gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” như một dòng chảy trôi những đứt nối của một nỗi niềm thiết tha gắn bó với đời, khát vọng sống đến khắc gian nghệ thuật là một biểu tượng thể hiện một quan niệm thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người. Thời gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” đã thể hiện quan niệm của Hàn Mặc Tử về thế thái nhân sinh. Cuộc đời là một chuỗi thời gian đứt gãy, chắp nối và cuối cùng tan vào hư vô. Mở đầu bài thơ, thời gian bắt đầu một ngày mới “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, cảnh vật tràn đầy sức sống. Thời gian thường vận động theo dòng vận động tuyến tính, một nhưng, nét mới, nét hiện đại ở đây là thời gian trong bài thơ không liên tục mà ngắt quãng. Thời gian mở đầu là buổi sớm tinh khôi nhưng đột ngột chuyển sang đêm trăng đầy mong ngóng, lo âu, buồn đến nao lòng và kết thúc trong thời gian mộng ảo, không xác định. Sự đứt nối thời gian trong bài thơ như một nỗi niềm tâm sự của nhà thơ về cuộc đời và kiếp sống mong manh, đứt đoạn của con người, của Hàn Mặc Tử - một kiếp người dang dở tình duyên và sự nghiệp văn gian của bài thơ không mang tính liên tục còn không gian lại không tuân theo tính duy nhất. Không gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” là không gian của sự chia lìa. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là mô hình thế giới độc lập, có tính chủ ý và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả, là không gian tinh thần của con người, là không gian sống mà con người cảm thấy trong tâm tưởng. Không gian nghệ thuật là loại không gian topos, là không gian cảm giác được, là không gian nội cảm chứ không phải như không gian mặt phẳng kiểu Euclid. Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Do đó không thể quy không gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” về không gian địa lí hay không gian vật lí, vật gian trong bài thơ là không gian xứ Huế, cách trở, huyền hồ ”mờ nhân ảnh”. Không gian xa xôi, ngăn cách ấy không phải vì không gian địa lí mà đó là sự cách trở của hai tâm hồn, là nỗi niềm thổn thức của Hàn thi sĩ. Không gian ở đây được soi chiếu qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà hình ảnh vừa quen thuộc dân dã đã được Hàn Mặc Tử biến trở thành mới lạ hiện đại. Hàn Mặc Tử đã truyền vào những chất liệu ấy một màu sắc thẩm mỹ mới. Không chỉ hàng cau, mà nắng mới trên hàng cau; không chỉ khám phá ra những lá non xanh mướt của vườn cây mà còn nhận ra cái màu xanh ngọc sang trọng; không nhắc lại ngõ trúc, cành trúc hiu quạnh tĩnh mịch của ngày xưa mà là “lá trúc che ngang mặt chữ điền“. Câu thơ bao hàm được cả khung cảnh làng quê, ngõ trúc và cuộc sống đang diễn ra, gần gũi thân thương…Mơ khách đường xa khách đường xaÁo em trắng quá nhìn không raỞ đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đàKhổ thơ vẽ nên cảnh sắc vừa thực vừa hư ảo, vừa là Quy Nhơn ở đây, vừa là ấn tượng xứ Huế trong linh hồn đau thương của Hàn Mặc Tử, cảnh vừa trong thực tại hôm nay trong cõi đời này, lại vừa như ở nơi xa mờ ngoài cõi nhân gian. Trong không gian của thế giới đa chiều ấy, linh hồn Hàn Mặc Tử vừa hy vọng vừa tuyệt vọng, vừa hướng ra xa tìm kiếm mong đợi, vừa nhìn vào trong thương cho số phận mình. Điều lay động sâu xa nơi người đọc vẫn là tấm lòng thiết tha của Hàn Mặc Tử với cuộc đời, với đất nước, con người quê kỳ diệu là, trong nỗi bi thương và tuyệt vọng không cùng ấy, hình ảnh quê hương, con người xứ Huế hiện lên thật trong trẻo khôi nguyên. Nắng mới trên hàng cau, vườn cây xanh ngọc, con thuyền đậu bến sông trăng, áo em trắng quá… Đó cũng là linh hồn tinh khôi của Hàn Mặc Tử, người đã vượt lên trên cái bi thương tuyệt vọng, vượt lên trên sự nhạt nhòa cõi chết, để sống mãi với đời trong niềm khát khao vô hạn cõi nhân sinh tuyệt diệu này.“Trăng” là hình ảnh khá quen thuộc trong thơ ca trung đại để tỏ chí, tỏ lòng nhưng trong bài thơ này không còn là ánh trăng của thi ca cổ điển nữa, nó đã được tác giả làm mới qua hình ảnh “sông trăng”. Không còn là ánh trăng cô đơn trên cao, không phải là ánh trăng để người thi sĩ giài bày, "sông trăng" toát lên thứ ánh vàng kì lạ, như sáng bừng một góc xứ Huế, sáng dậy một góc trong tâm thức thi sĩ. Hình ảnh "trăng" xuất hiện rất nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử, nó gần như trở thành một nỗi ám ảnh trong thơ ông. Nhà phê bình Đặng Tiến có nhận xét minh xác về trăng Hàn thế này “Trăng là nguồn sống để đối diện, giãi bày nỗi lòng của thi sĩ. Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ là ánh sáng huyền ảo và hắt hiu mà nó như một vật cụ thể khả xúc”.Cảnh mây gió, sông nước, đêm trăng xứ Huế êm đềm thơ mộng. Xứ Huế có dòng sông Hương nuớc lững lờ trôi. Thuyền của du khách xuôi êm như ru qua các cù lao, hai bên bờ đậm nhạt hoa cỏ. Ở cù lao Hến người xứ Huế trồng bắp, hoa bắp lay theo gió. Khách tham quan có thể ghé vào thưởng thức những trái bắp ngọt… Đêm trăng sông Hương là một không gian tuyệt vời, bầu trời rất trong và thoáng đãng, không gian tràn ngập ánh trăng. Trăng tuôn chảy thành dòng, Hàn Mặc Tử gọi đó là sông trăng. Con thuyền đậu bến sông trăng, như trong một thế giới trong veo của sự thanh khiết bình an và lãng nét vẽ cảnh vật của Hàn Mặc Tử sắc xảo, tinh tế và có thần. Ai đã từng thả thuyền trên sông Hương ban ngày hoặc xuôi theo dòng trong đêm trăng đều nhận ra cái tài hoa rất mực của Hàn Mặc Tử trong tứ thơThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay ?Khổ 2 là bức tranh siêu thực về cảnh sắc xứ Huế qua tâm trạng của Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử nhìn đâu cũng thấy sự chia ly. Nỗi buồn thương bao trùm lên tất theo lối gió mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layXưa nay mây đi theo gió, gió thổi mây bay. Giờ thì gió theo lối gió, mây đường mây, một hình ảnh siêu thực, hình ảnh của chia li. Mây, gió trở thành ẩn dụ cho sự chia xa không sao hàn gắn được trong tâm thức Hàn Mặc Tử. Dòng sông Hương giờ chỉ còn là “dòng nước buồn thiu“, vắng lặng, thê thiết. Hoa bắp lay và dòng nước buồn thiu hình như chẳng có liên quan gì với nhau. Đó là hai thực tại vô duyên, nhạt là vô duyên bởi vì so với các loài hoa, thì hoa bắp là loại hoa không hương không sắc, chẳng ai để ý. Người nông dân nhìn hoa bắp để biết trái bắp non hay già. Khi hoa bắp khô, ấy là lúc trái bắp đã cứng hạt, có thể thu hoạch. Hoa bắp trên thân cây khô chẳng gợi ra được bất cứ cảm xúc thẩm mĩ nào. Khác với “hoa trôi man mác biết là về đâu“ Truyện Kiều gợi ra số phận buồn thương. Trong mắt nhìn của Hàn Mặc Tử, thực tại bây giờ là thực tại vô duyên, lạnh nhạt, thê thiết. Hàn Mặc Tử đã xa lạ với thực tại ấy, đang mất dần những mối quan hệ với thực tại ấy, chẳng thể giữ được điều Mặc Tử đã đem đến cho thơ ca Việt Nam những điều mới mẻ của nghệ thuật siêu thực. Cảnh sắc mây gió, sông nước, đêm trăng xứ Huế đã thăng hoa thành cái đẹp, cái đẹp vượt trên thực tại, để cùng với cái đẹp hiện thực của xứ Huế làm nên tứ thơ lạ lùng, như chưa từng có. Quả thật khó có nhà thơ nào viết được những tứ thơ hay hơn, độc đáo hơn về trăng như dòng sông trăng của Hàn Mặc Tử. Bức tranh thiên nhiên siêu thực đã làm thay đổi phẩm chất thơ trữ tình Thơ trữ tình Hàn Mặc Tử trở thành thơ trữ tình hướng so sánh với các nhà thơ khác. Xuân Diệu chiêm ngắm mùa thu ở ngoài tâm hồn mình, từ đó cảm nhận cái đẹp khách thể của thiên nhiên trong Đây mùa thu tới, Huy Cận trải lòng mình trên “sông dài, trời rộng bến cô liêu“ mà nghe “lòng quê dợn dợn vời con nước" Tràng giang. Còn Hàn Mặc Tử lại tự hỏi, con thuyền đậu bến sông trăng kia “có chở trăng về kịp tối nay“.Nhạc điệu thơ Hàn Mặc Tử là nhạc điệu của tâm hồn có nhiều trạng thái đặc biệt. Hàn Mặc Tử hay dùng cách kết hợp các từ láy hay chú công trong thanh điệu để diễn tả những khúc nhạc lòng buồn miên man hoặc trầm lắng du dương. Một chữ “mơ” đầy tình tứ trong câu thơ có nhạc điệu chơi vơi “Mơ khách đường xa, khách đường xa”. Du khách hay thôn nữ Vĩ Dạ? Chắc lại là giai nhân mà thi nhân từng mơ ước “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Vừa thực vừa mộng. Con người của thực tại hay con người trong hoài niệm? Sương khói của bến sông trăng hay miệt vườn Vĩ Dạ đã làm mờ nhân ảnh của giai nhân? Trong cảnh có tình, trong tình có màn sương khói, một thứ tình yêu kín đáo, e dè, thiết với việc đổi mới câu thơ, đổi mới từ ngữ, Thơ mới có sự vận động tăng cường tầng nghĩa sâu theo "Nguyên lí tảng băng trôi" Hemingway bằng các biện pháp ẩn dụ, chuyển đổi cảm giác, tạo nghĩa gợi ý, ẩn ý, hàm ý. Theo Chế Lan Viên, trong thơ có "bề mặt" ,"bề sâu" và cả "bề xa" nữa. Câu thơ mở đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử "Sao anh không về chơi thôn Vĩ" là một câu hỏi phản ánh nội tâm phong phú và tuyệt vời tế nhị. Từ "sao" là từ để hỏi, đặt ở đầu câu như nỗi niềm da diết, bức xúc bị dồn nén quá lâu nay mới được bật thơ có 6 thanh bằng ở đầu, thanh trắc ở cuối vút lên tạo âm điệu đặc biệt nửa như trách cứ day dứt mà nhẹ nhàng, nửa như mời gọi giục giã mà thiết tha. Người hỏi là ai ? Một cô gái hay chính thi sĩ ? Có lẽ cả hai! Hay đúng hơn, chính Hàn Mặc Tử phân thân để tự đối thoại. Từ tấm lòng thi sĩ vút lên câu hỏi khắc khoải vừa thương nhớ Huế, vừa thương nhớ Người. Tình yêu đồng vọng với tình quê khiến hình ảnh thôn Vĩ hiện về tràn ngập tâm hồn thi sĩ. Ở đây, sự giao tiếp của thơ thực hiện vừa bằng cảm xúc, vừa bằng trí tuệ, vừa bằng cả thẩm mĩ các giác quan hòa thơ có cấu trúc rất lạ. Sự việc, con người được kể lại không theo bút pháp kể chuyện, sự vận động của hình tượng thơ cũng không phải là nhịp điệu chuyển hoá tâm trạng của nhân vật trữ tình. Tuy vậy, ba khổ thơ vẫn liền một mạch. Trước hết có sự liền mạch là do các câu hỏi được lặp lại trong mỗi khổ thơ. Phép lặp cấu trúc tạo nên sự kết nối. Nhưng cái mạch chính của bài thơ là ấn tượng của Hàn Mặc Tử về cảnh sắc, con người xứ Huế đẹp, thơ mộng, êm khổ thơ là một bức tranh xứ Huế trong những thời gian khoảnh khắc khác nhau. Vườn cây, hàng cau, con thuyền đậu bến sông trăng, thiếu nữ xứ Huế trắng lóa trong sương. Ba bức tranh tuy là riêng biệt nhưng vẫn là những nét đẹp đặc thù trong tổng thể đất nước con người xứ Huế. Mạch phát triển tình cảm xuyên suốt bài thơ cũng là mạch thống nhất, đó là tình cảm đằm thắm sâu nặng của Hàn Mặc Tử với quê hương xứ Huế, dù cung bậc và sắc thái tình cảm có khác nhau, song tình cảm ấy của Hàn Mặc Tử vẫn là một khối tinh ròng và lấp lánh những sắc màu của tình quê hương, tình tự dân tộc, vì thế bài thơ có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn người phát triển thống nhất nhưng có một bước “nhảy vọt nghệ thuật“ giữa các khổ thơ. Nghĩa là mỗi khổ thơ tồn tại độc lập, không quan hệ với nhau, dường như còn có vẻ xa lạ với nhau. Chẳng hạn khổ đầu có nhân vật “anh", khổ thứ hai có nhân vật “ai” và khổ ba có nhân vật “em“. Không thể có một nhân vật trữ tình vừa là em đối thoại với anh, vừa là mình đối thoại với ai, lại vừa là anh đối thoại với em trong cùng một bài thơ. Cũng xa lạ như vậy về bút pháp, khổ một được viết bằng bút pháp hiện thực. Cảnh và người là cảnh thực, thực đến từng chi tiết, chẳng hạn chi tiết lá trúc che ngang mặt chữ thơ hai, cảnh không còn là cảnh hiện thực nữa. Hiện thực thăng hoa thành siêu thực. Người đọc chỉ còn thấy một vài dấu tích của hiện thực dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay, con thuyền, dòng sông. Và ngay cả những dấu tích ấy, cũng nhòa đi trong tâm tưởng Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử đang đâu đó khuất trong bóng tối, nhìn ra ngoài kia, thấy rất rõ đường nét, linh hồn của mây, gió, sông nước, và dòng sông trăng soi sáng con thuyền chở trăng đang đậu bến. Đến khổ thơ ba, Hàn Mặc Tử đã ở nơi xa lắm, ngoài cõi nhân gian, nhìn thấy mình đã “mờ nhân ảnh“ trong cõi người. Đó không còn là cái nhìn siêu thực, mà là cái nhìn bằng tâm linh. Chỉ khi linh hồn thoát ra khỏi thân xác, bước vào cõi ánh sáng chói lóa nhìn không ra, thì khi ấy mới nhìn thấy con người trần gian mờ mờ nhân Mặc Tử đã đem đến một bút pháp mới lạ cho thơ Việt Nam. Từ bút pháp hiện thực, tượng trưng quen thuộc, thơ ca đã đã bước hẳn sang thế giới siêu thực. Hơn thế, Hàn Mặc Tử còn dẫn thơ ca vào cõi tâm linh nhưng lại rất dân dã và hiện thực. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ tiêu biểu cho Thơ mới, có sự kết hợp giữa tinh hoa thơ trung đại và nét mới mẻ của thơ hiện đại phương Tây. Từ đó thấy rằng thơ mới là một bước tiếp nối, phát triển của thơ ca dân tộc chứ không phải là bước đoạn tuyệt với thơ trung thêm Sơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ-/- Tuy gợi ý trên đây chưa phải là một bài văn hoàn chỉnh đáp ứng yêu cầu cuối cùng của đề bài phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ, nhưng các em học sinh có thể dựa vào đó kết hợp với những câu nối, đoạn văn nối để tạo sự liên kết giữa các ý. Chúc các em học tốt Ngữ văn 11.
Yoga cổ điển hay hiện đại? Thể loại nào thật sự tốt? Đầu tiên, phải chia sẻ chút về Yoga cổ điển là gì? Và Yoga hiện đại là gì? Nếu tính về thời gian, để phân biệt cổ điển và hiện đại thì đơn giản. Thời điểm nào càng xa bây giờ là gần về cổ điển, còn càng gần bây giờ là hiện đại. Cột mốc của Yoga cổ điển là thời kỳ Yoga của Patanjali cách nay khoảng 2500 năm. Trước đó là trước cổ điển, sau đó là sau cổ điển hoặc có thể gọi là cận hiện đại và hiện đại. Điểm chuyển giao của thời kỳ cổ điện và hiện đại là sự phát triển vượt bậc của nhánh Hatha Yoga Yoga hướng tập trung vào Asana, Pranayama, Mudra & Bandha để kiểm soát tâm trí. Vậy, thời kỳ Yoga của các vị Thầy lớn của thế giới như Thầy Sivananda 1887 – 1963 Sivananda Yoga, Knisnamacharya Ashtanga Yoga thuộc thời kỳ Yoga hiện đại. Vẫn còn nhiều trường phái Yoga khác cũng phát triển giai đoạn này nhưng vì đây là 2 trường phái phổ biến ở Việt Nam nên mình giới thiệu. Bản thân mình là giáo viên Yoga 500 giờ được đào tạo bởi hệ thống Sivananda Yoga. Có thể khẳng định, dù là 2 trường phái Yoga khác nhau, nhưng 2 vị Thầy lớn này luôn được thế giới ngưỡng mộ và biết ơn vì đã truyền bá thành công Yoga đến cho thế giới hiện đại Phương Tây, đánh dấu giai đoạn Yoga đến gần hơn với cộng đồng dân chúng. Ngày nay, người người tập Yoga, nhà nhà tập Yoga. Lễ tốt nghiệp nhận bằng HLV Yoga 300hrs tại Sivananda Yoga Được biết đến ở thời hiện đại, nhưng tại sao đa phần mọi người ngày nay nhận định rằng Sivananda Yoga hay Ashtanga Yoga là YOGA CỔ ĐIỂN. Vì dù phát triển trong thời kỳ hiện đại nhưng phương pháp của 2 dòng Yoga truyền thống này được làm nổi bậc với những điểm mang tính cổ điển như triết lý dựa theo 8 nhánh của Yoga gồm luyện đạo đức & lối sống Yama & Niyama, luyện thân Asana, luyện khí Pranayama, luyện sự tập trung & thiền định Pratyahara, Dharana, Dhyana và cuối cùng hướng đến sự giải thoát linh hồn Samadhi. Rèn luyện Ashtanga Yoga Mysore với cô giáo Shashikala tại YogaShala The 3 Sisters tại Mysore – Ấn Độ Thầy Vishnu Devananda – vị đệ tử thông thái và đánh kính của thầy Sivananda đã đúc rút lại toàn bộ kiến thức khổng lồ của Yoga cổ điển với hệ thống khoa học và toàn diện của 5 điểm Yoga gồm Hít thở đúng – Tư thế đúng – Thư giãn đúng – Dinh dưỡng đúng – Tư duy tích cực & Thiền định. Hệ thống dễ tiếp cận với đại đa số mọi người. Có thể nói cách làm của Thầy rất hiện đại. Người Phương Tây đã rất biết ơn nền tảng thực hành 5 điểm Yoga này vì đã giúp họ có phương pháp đúng để có sức khỏe toàn diện và kiểm soát được stress thời hiện đại. Nên, nếu ai chưa nắm rõ về các thời kỳ Yoga nhưng hiểu cách thực hành thì vẫn xem Sivananda Yoga hay Ashtanga Yoga là Yoga cổ điển. Đặc biệt, Sivananda Yoga nổi lên là điển hình sâu sắc nhất của dòng Yoga cổ điển vì nền tảng triết lý của họ còn đi sâu hơn vào triết lý Vedanta kinh Vệ Đà và hướng học trò thực hành Yoga 1 cách cân bằng cả 4 con đường Raja & Hatha, Bhakti, Karma và Jnana. Tiếp theo, khái niệm YOGA HIỆN ĐẠI theo quan sát, mình thấy có 1 số suy nghĩ theo hướng như là tập Yoga không quan trọng hơi thở, thư giãn, thiền định mà chỉ tập trung làm tư thế cho đẹp để show-up trên các phương tiện xã hội, rồi không hướng đến đạo đức, lối sống, ăn thực vật, phô diễn Asana và hình thể là chính, rồi các cuộc thi để đạt thành tích trong Yoga. Một vài HLV Yoga còn kịch liệt phản đối Yoga hiện đại. Mình biết được điều này vì quá trình giảng bài về lịch sử Yoga trong khóa Đào tạo HLV Yoga của Yogadaily, khi đề cập đến Yoga hiện đại có nhiều bạn học viên hỏi mình rằng có phải Yoga hiện đại là hướng đến sự biểu diễn phô trương hình thể, vóc dáng hay không? Mình khẳng định đây là cách hiểu sơ sài. Khoa học về giải phẫu cơ thể và ứng dụng định tuyến là nền tảng của Yoga hiện đại Vậy khái niệm YOGA HIỆN ĐẠI cần được hiểu đúng là cập nhật để phù hợp với con người, phong cách sống của thời hiện đại nhưng vẫn mang lại lợi ích trọn vẹn của cái gốc Yoga. Đó là mang đến điều tốt đẹp, an lành cho cả thân, tâm, trí. Ví dụ, yoga hiện đại từ sau khi các đệ tử của thầy Sivananda, Krisnamacharya mang Yoga đến thế giới phương Tây, thì hướng tiếp cận của một số người phương Tây bắt đầu tập trung vào tìm hiểu kỹ hơn, bài bản hơn về GIẢI PHẪU HỌC, CƠ THỂ HỌC để ứng dụng vào việc tập luyện Yoga được an toàn, hiệu quả và tốt cho cơ thể của họ, lối sống của họ. Bạn cần hiểu rằng cơ thể người phương Tây mang tính dương nhiều các khớp cứng, không linh hoạt bằng người phương Đông, lối sống của họ thì xu hướng nhanh, tập trung vào mục tiêu, hiệu quả công việc, phát triển bản thân. Có thể kể đến những đại diện tiêu biểu của hướng tiếp cận hiện đại này Anusara Yoga, YogaWorks và nổi lên gần đây nhất là Inside Flow…. Các trường phái Yoga hiện đại này mình đều đã được học Anusara là học 1-1 với HLV coach, YogaWorks là tham gia chương trình TTC200hrs, Inside Flow tham gia TTC90hrs, lần đầu tiên thấy bỡ ngỡ và rối rắm là do bản thân mình chưa đủ thời gian ngấm. Nhưng rõ ràng sau 1 thời gian tập luyện và dạy, mình thấy quá hay và hiệu quả. Cho đến bây giờ, cơ thể mình có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực như mình mong muốn như vững vàng, mạnh mẽ và ổn định là nhờ vào cách tập này. Quá trình này cũng đã dạy cho mình thật sự bỏ cái tôi đi. Vì cái tôi lúc đó của mình là đã luyện tập 10 năm 1 dòng Yoga cổ điển thì những cái mới này cũng chẳng giúp ích gì, chỉ là thức thời thôi. Nhưng mình thấy nhận định lúc đó của mình chưa đúng. Yoga cổ điển hay hiện đại thì gốc vẫn là sự hòa hợp thân tâm và hòa hợp với luật tự nhiên Những dòng Yoga hiện đại này họ có dạy TRIẾT LÝ không? Có chứ. Nhưng cách dạy cũng mới, không dài dòng, lòng vòng, trừu tượng mà trực tiếp, ứng dụng đời sống cao và đi thẳng vào vấn đề. Cách dạy triết lý này mình thấy rất hay, hiệu quả. Các bài triết lý họ dạy vẫn bám vào cái gốc của Yoga là 8 nhánh Yoga và định nghĩa Yoga trong Yoga Sutra Yoga nirodha chitta vritti Yoga là sự kiểm soát tâm trí tầng bản năng, tiềm thức. Quan niệm của họ là ALIGN YOUR BODY – ALIGN YOUR LIFE Hiểu nôm na là cơ thể thẳng hàng thẳng lối thì cuộc đời bạn cũng rõ ràng, mọi thứ đâu vào đó . Vậy rõ ràng, mục tiêu của Yoga hiện đại không phải là sự phô diễn sức mạnh cơ thể mà chính là tinh thần, cảm xúc, tâm linh và cuộc sống. Nhưng để đạt được một sự vững vàng, tự tin và hòa hợp thì phải luyện tập qua bước trung gian là cơ thể. Dẫn dắt người tập từng bước hướng vào bên trong thông qua các điểm tập trung ban đầu là canh chỉnh thẳng hàng của cơ thể. Đây chính là phương pháp của Hatha Yoga cổ điển đó thôi dùng cơ thể là phương tiện để kiểm soát tâm trí. Vinyasa Yoga asanas đi theo chuỗi của Yoga hiện đại cũng xuất phát từ cái gốc Hatha Yoga. Đặc biệt, Inside Flow được xem là cuộc cách mạng của Vinyasa. Họ dùng âm nhạc, beat nhạc để hướng người tập vào sự tập trung cao độ, giúp cảm xúc tích cực và thăng hoa. Yoga cổ điển vẫn có con đường Bhakti Yoga là chuyển hóa cảm xúc bằng âm nhạc Kirtan hát lên âm nhạc của đấng linh thiêng đó thôi. Điểm khác ở đây, Inside Flow dùng âm nhạc hiện đại, Kirtan dùng nhạc Mantra cổ điển. Nhưng dù là nhạc gì thì mục đích vẫn là chuyển hóa cảm xúc theo chiều hướng thuần khiết và tốt hơn. Một người được đào tạo bài bản Inside Flow sẽ được dạy về cách chọn nhạc rất kỹ. Những bản nhạc phải tích cực, phải giúp tinh thần con người mạnh mẽ, vượt qua được thử thách và kết nối với hạnh phúc, tình yêu thương. Chứ không phải những bản nhạc ủy mị, buồn thương và kéo tinh thần vào sự bế tắc. Vì sao, ngày nay, nhiều người luyện tập Vinyasa hơn Hatha vì nó phù hợp với lối sống hiện đại. Vinyasa không dừng lại quá lâu ở một tư thế như Hatha Yoga. Vinyasa buộc họ phải luôn trong sự chuyển động nhưng phải tỉnh thức biết mình đang đi đâu, làm gì, khi nào cần dừng lại, khi nào cần đi tiếp. Để làm được điều này, dù trong trạng thái chuyển động liên tục nhưng họ vẫn phải ý thức hơi thở nên nguyên lý về hít thở đúng trong Vinyasa vẫn luôn được chú trọng. Còn có những hình thức Yoga hiện đại khác như Yoga phục hồi, Yin Yoga sẽ giúp cho con người thời hiện đại dễ dàng tiếp cận hơn với trạng thái tĩnh tại như thư giãn tĩnh, thiền. Vậy sẽ vô cùng sai lệch khi khẳng định rằng Yoga hiện đại không chú trọng vào thở, thiền, thư giãn, tư duy & lối sống tích cực. Đâu phải cái gì cổ điển cũng tốt hơn. Có những cái cổ điển cứ ôm khư khư vào, không mở lòng học hỏi hay phủ nhận, phản đối những cái mới mà chưa biết rõ nào thế nào thì dù đang thực hành Yoga cổ điển nhưng tâm không hề bình an vì có sự bám chấp, sở hữu, sân-si. Cái từ hiện đại thường hay bị gắn mác sai lệch nhưng phải hiểu hiện đại là khoa học, cập nhật với thời đại nhưng vẫn mang nhiều lợi ích rất tốt đẹp khi thực hành đúng. ** TRỞ LẠI THẮC MẮC “CHỌN YOGA CỔ ĐIỂN HAY HIỆN ĐẠI”, với quá trình đã trải nghiệm Yoga hơn 10 năm qua nhiều thể loại từ rất cổ điển Ananda Marga, Sivananda, Ashtanga đến rất hiện đại YogaWorks, Anusara, Inside Flow, Yoga phục hồi, Yin Yoga, Vinyasa, mình có thể chia sẻ và đưa ra lời khuyên với góc nhìn cá nhân thế này – Mục tiêu đúng của Yoga không có phân biệt cách thức cổ điển hay hiện đại. Mục tiêu cuối cùng của Yoga là tâm trí bình an, tâm hồn hạnh phúc, phát triển tình thương thuần khiết. Và sản phẩm phụ rất tuyệt vời của Yoga là cơ thể khỏe mạnh, sức khỏe bền bỉ, dẻo dai, vóc dáng cân đối, ngoại hình tươi trẻ, duyên dáng, tràn đầy sức sống… – Yoga trải qua hàng ngàn năm sẽ có nhiều con đường, nhiều phương thức tiếp cận. Nên về phương thức có thể chia ra cổ điển, hiện đại. Hai khái niệm này cần phải hiểu đúng về nó. Không nên nghĩ rằng Yoga cổ điển là tốt hơn, hay hiện đại mới là nhất. – Cuối cùng cổ điển hay hiện đại cũng chỉ là tương đối thôi. Quan trọng là phương thức đó có thật sự giúp ích cho mình, đáp ứng được nhu cầu chân chính của mình về sức khỏe và tâm trí không. – Nếu thể loại nào giúp cho mình thì mình luyện tập, ở lại với nó đủ lâu để nhận hết giá trị, với cá nhân mình là ít nhất 1 năm luyện tập đều đặn mỗi tuần 3-4 buổi. Khi nhu cầu thay đổi thì thể loại Yoga cũng có thể thay đổi nhưng vẫn có thể tập luyện cái cũ, song song cái mới. – Nếu thể loại đó chưa phù hợp và không đáp ứng nhu cầu hiện tại, thì tiếp tục tìm kiếm với sự chân thành, cởi mở. – Những dấu hiệu thấy một loại Yoga nào đó phù hợp với mình thích tập, khỏe hơn trước khi tập, tập lâu không bị các chấn thương như đau lưng, đau khớp…, tâm trí tích cực từng ngày, bớt sân – si, mở lòng hơn, bao dung hơn, nhìn sự việc với nhiều góc nhìn tích cực, cuộc sống tốt đẹp hơn….. *Bài viết được trích ra từ 1 phần trong bài giảng Lịch sử – Triết lý Yoga do mình hướng dẫn trong Khóa Đào tạo HLV Yogadaily. Bạn có thể tìm hiểu về khóa học tại LINK này
Dàn ý + Bài văn mẫu lớp 11Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử1. Dàn ý phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ2. Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ DạPhân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ được gửi tới bạn đọc để bạn đọc cùng tham khảo và có thêm tài liệu học tập nhé. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết tại Dàn ý phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạa Mở bài- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm+ Hàn Mặc Tử là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.+ Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện Dẫn dắt vấn đề Nét cổ điển và hiện đại trong bài thơ Đây thôn Vĩ Thân bài* Khái quát về bài thơ- Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ điên về sau đổi thành Đau thương, được gợi cảm hứng từ tấm ảnh về phong cảnh Huế và lời hỏi thăm của Hoàng Cúc - người mà Hàn Mặc Tử ôm ấp mối tình đơn phương khi còn làm ở sở Đạc Giá trị nội dung Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.* Phân tích nét cổ điển- Thể thơ 7 tiếng tuân thủ chặt chẽ hiệp vần, đối, Thi liệu lấy tứ từ thơ cổ+ Gió, trăng, thuyền, trúc, bến sông, thuyền,…+ Hình ảnh hàng cau, lá trúc, vườn cây quen thuộc của thôn quê Việt Nam, là tình tự dân tộc trong ca dao và tâm hồn Việt Nam trong thơ cổ Gợi tả, chấm phá "nắng hàng cau", "vườn ai mướt quá xanh như ngọc", khắc họa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tinh khôi của xứ Huế chỉ bằng 2 câu Nhịp điệu thơ nhẹ nhàng tạo nên bởi nhịp điệu đều đều chậm rãi của thể thơ thất ngôn 2/2/3 hoặc 4/3 với rất nhiều thanh bằng nằm ở vần thơ.* Phân tích nét hiện đại- Tác giả bộc lộ tâm trạng trực tiếp- Yếu tố tâm lí phức tạp, "điên loạn" thể hiện rõ qua sự thay đổi tâm trạng giữa các khổ thơ, các yếu tố không gian thời gian bị đảo lộn, không theo quy luật khách quan từ gần đến xa từ xa đến gần, không theo dòng chảy của thời gian mà theo dòng chảy của tâm Bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian, mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà thơ.+ Thời gian mở đầu là buổi sớm tinh khôi nhưng đột ngột chuyển sang đêm trăng đầy mong ngóng, lo âu, buồn đến nao lòng và kết thúc trong thời gian mộng ảo, không xác định.+ Không gian trong bài thơ là không gian xứ Huế, cách trở, huyền hồ "mờ nhân ảnh”. Không gian xa xôi, ngăn cách ấy không phải vì không gian địa lí mà đó là sự cách trở của hai tâm hồn, là nỗi niềm thổn thức của Hàn thi sĩ. Không gian ở đây được soi chiếu qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà Những hình ảnh vừa quen thuộc dân dã đã được Hàn Mặc Tử biến trở thành mới lạ hiện đại.+ Không chỉ hàng cau, mà nắng mới trên hàng cau+ Không chỉ khám phá ra những lá non xanh mướt của vườn cây mà còn nhận ra cái màu xanh ngọc sang trọng+ Không nhắc lại ngõ trúc, cành trúc hiu quạnh tĩnh mịch của ngày xưa mà là “lá trúc che ngang mặt chữ điền“- Xu hướng thơ siêu thực, tượng trưng+ Hình ảnh "trăng" không còn là ánh trăng của thi ca cổ điển nữa, nó đã được làm mới qua hình ảnh “sông trăng” toát lên thứ ánh vàng kì lạ, như sáng bừng một góc xứ Huế, sáng dậy một góc trong tâm thức thi sĩ+ Xưa nay mây đi theo gió, gió thổi mây bay, giờ thì gió theo lối gió, mây đường mây, một hình ảnh siêu thực, hình ảnh của chia Nhạc điệu thơ là nhạc điệu của tâm hồn có nhiều trạng thái đặc biệt, kết hợp các từ láy hay chú công trong thanh điệu- Bài thơ có cấu trúc rất lạ sự việc, con người được kể lại không theo bút pháp kể chuyện, sự vận động của hình tượng thơ cũng không phải là nhịp điệu chuyển hoá tâm trạng của nhân vật trữ Mạch phát triển thống nhất nhưng có một bước “nhảy vọt nghệ thuật" giữa các khổ thơ mỗi khổ thơ tồn tại độc lập, không quan hệ với Kết bài- Khái quát lại nét cổ điển và hiện đại của bài Nêu cảm nhận của Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ DạNếu Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong tất cả những nhà thơ mới thì Hàn Mặc Tử là nhà thơ lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới. Đọc thơ Hàn thi sĩ ta bắt gặp một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống, yêu thiên cảnh, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng; một khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Trong thơ Hàn, nhiều bài thơ mang khuynh hướng siêu thoát vào thế giới siêu nhiên, tôn giáo…nhưng đó là hình chiếu ngược của khát vọng sống, khát vọng giao cảm với đời. "Đây thôn Vĩ Dạ" là bài thơ hay và tiêu biểu nhất cho phong cách tâm hồn thơ Hàn Mặc Tử, bài thơ đã được nhà phê bình Hoài Thanh chọn in trong tập "Thi nhân Việt Nam" 1941. Đây có thể xem là một chủ âm trong cây đàn thơ muôn điệu của Hàn Mặc Tử, là một thi phẩm xuất sắc của thi đàn Thơ mới. Hàn Mặc Tử quan niệm “Ta không nên quên thơ ta là thơ quốc âm, ta phải giữ cái tinh thần Việt Nam của ta. Hơn nữa cái tinh thần phương Đông mà rung cảm tâm hồn người ta là nhờ ở cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thấm thía”. "Đây thôn Vĩ Dạ" cũng theo tinh thần ấy, bài thơ là sự kết hợp giữa nét truyền thống và hiện đại.* Nét Cổ điểnBuổi đầu, để khẳng định cái mới, đề cao Thơ mới, người ta cho rằng Thơ mới đã đoạn tuyệt với thơ cổ. Thực ra, trong quá trình vận động, Thơ mới luôn tiếp nối văn mạch của thơ cổ, tiếp thu tinh hoa thơ cổ. Chịu ảnh hưởng thi ca Pháp nhưng Thơ mới có liên hệ sâu sắc với Đường Trong bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ", yếu tố truyền thống trước hết thể hiện ở thể thơ 7 tiếng tuân thủ chặt chẽ hiệp vần, đối, Thi liệu lấy tứ từ thơ cổ gió, trăng, thuyền, trúc, bến sông, thuyền,…Hình ảnh hàng cau, lá trú, vườn cây là hình ảnh cuả thôn quê Việt Nam. Hình ảnh ấy đã trở thành tình tự dân tộc trong ca dao, và tâm hồn VN trong thơ cổ điển. “Gió đưa cành trúc la đà “Ca dao, “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo“ Thơ Nguyễn Khuyến.Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?Tứ thơ có cái cao rộng trí tuệ cuả dòng trường giang chảy bên trời trong thơ cổ điển vì sông trăng cũng chảy ngang bầu trời, như sông Ngân hà , vưà có cái ấn tượng thân phận mơ hồ sâu xa cuả “ thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa “trong thơ Nguyễn Du, lại có cái cảm thức đời thực cuả những con đò chở khách hay con thuyền đánh cá trở về vào buổi truyền thống trong thơ trung đại được Hàn Mặc Tử vận dụng trong việc gợi tả, chấm phá "nắng hàng cau", "vườn ai mướt quá xanh như ngọc", khắc họa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tinh khôi của xứ Huế chỉ bằng 2 câu thơ. Cần chi phải tả nhiều, viết nhiều, ngần ấy thôi cũng đủ cho bạn đọc cảm nhận về thôn Vĩ tươi đẹp trong kí ức nhà Nhịp điệu thơ nhẹ nhàng Toàn bài thơ luôn duy trì một âm điệu trầm buồn, sâu lắng, rất thích hợp để diễn tả tâm trạng của nhà thơ. Âm điệu này được tạo nên bởi nhịp điệu đều đều chậm rãi của thể thơ thất ngôn 2/2/3 hoặc 4/3 với rất nhiều thanh bằng nằm ở vần thơ. Câu thơ của Hàn Mặc Tử về bến sông trăng và thuyền ai gợi nhớ đến vần ca dao thuyền nhớ bến… bến đợi về có nhớ bến chăngBến thì 1 dạ khăng khăng đợi thuyềnCa daoVà vì thế nó gợi lên một mối tình thương nhớ, đợi chờ man mác, mơ hồ, bâng bài thơ có 4 từ “ai” đại từ phiếm chỉ cùng xuất hiện trong các câu hỏi tu từ, không chỉ góp phần tạo nên âm điệu lâng lâng, ngỡ ngàng mà còn dẫn hồn người đọc nhớ về một miền dân ca Huế man mác sâu lắng, bồi hồi, thiết tha“Núi Truối ai đắp mà cao,Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?Nong tằm ao cá nương dâuĐò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò…”* Nét Hiện đại- Nét hiện đại trong Thơ Mới thể hiện rõ ràng nhất ở cách bộc lộ tâm trạng trực tiếp của tác giả. Yếu tố tâm lí phức tạp, "điên loạn" thể hiện rõ qua sự thay đổi tâm trạng giữa các khổ thơ, các yếu tố không gian thời gian bị đảo lộn, không theo quy luật khách quan từ gần đến xa từ xa đến gần, không theo dòng chảy của thời gian mà theo dòng chảy của tâm trạng- Tâm trạng buồn của nhà thơ lại in đậm nỗi buồn, cô đơn của thời đại, khát khao yêu đương chân thành, đằm thắm, sự gắn bó với xứ Huế, một miền đất quê hương... Từ ao ước, đắm say đến hoài vọng, đợi chờ và mơ tưởng, hoài nghi để cuối cùng sầu muộn và bi quan, yếm thế. Tất cả chỉ là những cung bậc khác nhau nhưng cốt lõi vẫn là một nỗi niềm thiết tha giao cảm với đời, với con góc độ không- thời gian nghệ thuật, bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong ánh nắng mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cảnh thực; cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo, thực hư xen lẫn vào nhau chập chờn chuyển hoá và hình bóng “khách đường xa” nơi chốn sương khói mông lung, cảnh chìm trong mộng ảo. Không- thời gian nghệ thuật của bài thơ được sáng tạo mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục, bị đứt nối, ngắt quãng cảnh thôn Vĩ vào buổi sớm tinh mơ- cảnh sông nước đêm trăng và cuối bài thơ chỉ còn là thời gian vô thức, không xác định. Thời gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” như một dòng chảy trôi những đứt nối của một nỗi niềm thiết tha gắn bó với đời, khát vọng sống đến khắc gian nghệ thuật là một biểu tượng thể hiện một quan niệm thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người. Thời gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” đã thể hiện quan niệm của Hàn Mặc Tử về thế thái nhân sinh. Cuộc đời là một chuỗi thời gian đứt gãy, chắp nối và cuối cùng tan vào hư vô. Mở đầu bài thơ, thời gian bắt đầu một ngày mới “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, cảnh vật tràn đầy sức sống. Thời gian thường vận động theo dòng vận động tuyến tính, một chiều. Thế nhưng, nét mới, nét hiện đại ở đây là thời gian trong bài thơ không liên tục mà ngắt quãng. Thời gian mở đầu là buổi sớm tinh khôi nhưng đột ngột chuyển sang đêm trăng đầy mong ngóng, lo âu, buồn đến nao lòng và kết thúc trong thời gian mộng ảo, không xác định. Sự đứt nối thời gian trong bài thơ như một nỗi niềm tâm sự của nhà thơ về cuộc đời và kiếp sống mong manh, đứt đoạn của con người, của Hàn Mặc Tử- một kiếp người dang dở tình duyên và sự nghiệp văn gian của bài thơ không mang tính liên tục còn không gian lại không tuân theo tính duy nhất. Không gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” là không gian của sự chia lìa. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là mô hình thế giới độc lập, có tính chủ ý và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả, là không gian tinh thần của con người, là không gian sống mà con người cảm thấy trong tâm tưởng. Không gian nghệ thuật là loại không gian topos, là không gian cảm giác được, là không gian nội cảm chứ không phải như không gian mặt phẳng kiểu Euclid. Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Do đó không thể quy không gian trong “Đây thôn Vĩ Dạ” về không gian địa lí hay không gian vật lí, vật gian trong bài thơ là không gian xứ Huế, cách trở, huyền hồ ”mờ nhân ảnh”. Không gian xa xôi, ngăn cách ấy không phải vì không gian địa lí mà đó là sự cách trở của hai tâm hồn, là nỗi niềm thổn thức của Hàn thi sĩ. Không gian ở đây được soi chiếu qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà thơ- Hình ảnhNhững hình ảnh vưà quen thuộc dân dã đã được Hàn Mặc Tử biến trở thành mới lạ hiện đại. Hàn Mặc Tử đã truyền vào những chất liệu ấy một màu sắc thẩm mỹ mới. Không chỉ hàng cau, mà nắng mới trên hàng cau; Không chỉ khám phá ra những lá non xanh mướt cuả vườn cây mà còn nhận ra cái màu xanh ngọc sang trọng ; Không nhắc lại ngõ trúc, cành trúc hiu quạnh tĩnh mịch cuả ngày xưa mà là “ lá trúc che ngang mặt chữ điền “ . Câu thơ bao hàm được cả khung cảnh làng quê, ngõ trúc và cuộc sống đang diễn ra, gần gũi thân thương…Mơ khách đường xa khách đường xaÁo em trắng quá nhìn không raỞ đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đàKhổ thơ vẽ nên cảnh sắc vưà thực vưà hư ảo, vưà là Quy Nhơn ở đây , vưà là ấn tượng xứ Huế trong linh hồn đau thương cuả Hàn Mặc Tử, cảnh vưà trong thực tại hôm nay trong cõi đời này, lại vưà như ở nơi xa mờ ngoài cõi nhân gian. Trong không gian cuả thế giới đa chiều ấy, linh hồn Hàn Mặc Tử vưà hy vọng vưà tuyệt vọng, vưà hướng ra xa tìm kiếm mong đợi, vưà nhìn vào trong thương cho số phận mình. Điều lay động sâu xa nơi người đọc vẫn là tấm lòng thiết tha cuả Hàn Mặc Tử với cuộc đời, với đất nước, con người quê hương. Điều kỳ diệu là, trong nỗi bi thương và tuyệt vọng không cùng ấy, hình ảnh quê hương, con người xứ Huế hiện lên thật trong trẻo khôi nguyên. Nắng mới trên hàng cau, vườn cây xanh ngọc, con thuyền đậu bến sông trăng, áo em trắng quá…Đó cũng là linh hồn tinh khôi cuả Hàn Mặc Tử, người đã vượt lên trên cái bi thương tuyệt vọng , vượt lên trên sự nhạt nhoà cõi chết, để sống mãi với đời trong niềm khát khao vô hạn cõi nhân sinh tuyệt diệu này- Xu hướng thơ siêu thực, tượng trưng“Trăng” là hình ảnh khá quen thuộc trong thơ ca trung đại để tỏ chí, tỏ lòng nhưng trong bài thơ này không còn là ánh trăng của thi ca cổ điển nữa, nó đã được tác giả làm mới qua hình ảnh “sông trăng”. Không còn là ánh trăng cô đơn trên cao, không phải là ánh trăng để người thi sĩ giài bày, "sông trăng" toát lên thứ ánh vàng kì lạ, như sáng bừng một góc xứ Huế, sáng dậy một góc trong tâm thức thi sĩ . Hình ảnh Trăng xuất hiện rất nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử, nó gần như trở thành một nỗi ám ảnh trong thơ ông. Nhà phê bình Đặng Tiến có nhận xét minh xác về trăng Hàn thế này “Trăng là nguồn sống để đối diện, giãi bày nỗi lòng của thi sĩ. Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ là ánh sáng huyền ảo và hắt hiu mà nó như một vật cụ thể khả xúc”.Cảnh mây gió, sông nước, đêm trăng xứ Huế êm đềm thơ mộng. Xứ Huế có dòng sông Hương nuớc lững lờ trôi. Thuyền cuả du khách xuôi êm như ru qua các cù lao, hai bên bờ đậm nhạt hoa cỏ. Ở cù lao Hến người xứ Huế trồng bắp, hoa bắp lay theo gió. Khách tham quan có thể ghé vào thưởng thức những trái bắp ngọt … Đêm trăng sông Hương là một không gian tuyệt vời, bầu trời rất trong và thoáng đãng, không gian tràn ngập ánh trăng. Trăng tuôn chảy thành dòng , Hàn Mặc Tử gọi đó là sông trăng. Con thuyền đậu bến sông trăng, như trong một thế giới trong veo cuả sự thanh khiết bình an và lãng mạn. Những nét vẽ cảnh vật cuả Hàn Mặc Tử sắc xảo, tinh tế và có thần. Ai đã từng thả thuyền trên sông Hương ban ngày hoặc xuôi theo dòng trong đêm trăng đều nhận ra cái tài hoa rất mực cuả Hàn Mặc Tử trong tứ thơThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?Khổ 2 là bức tranh Siêu thực về cảnh sắc xứ Huế qua tâm trạng cuả Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử nhìn đâu cũng thấy sự chia ly. Nỗi buồn thương bao trùm lên tất theo lối gió mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layXưa nay mây đi theo gió, gió thổi mây bay. Giờ thì gió theo lối gió, mây đường mây, một hình ảnh Siêu thực, hình ảnh cuả chia ly. Mây, gió trở thành ẩn dụ cho sự chia xa không sao hàn gắn được trong tâm thức Hàn Mặc Tử. Dòng sông Hương giờ chỉ còn là “ dòng nước buồn thiu “, vắng lặng, thê thiết. Hoa bắp lay và dòng nước buồn thiu hình như chẳng có liên quan gì với nhau. Đó là hai thực tại vô duyên, nhạt nhẽo. Gọi là vô duyên bởi vì so với các loài hoa, thì hoa bắp là loại hoa không hương không sắc, chẳng ai để ý. Người nông dân nhìn hoa bắp để biết trái bắp non hay già. Khi hoa bắp khô, ấy là lúc trái bắp đã cứng hạt, có thể thu hoạch. Hoa bắp trên thân cây khô chẳng gợi ra được bất cứ cảm xúc thẩm mỹ nào. Khác với “ hoa trôi man mác biết là về đâu “ Truyện Kiều gợi ra số phận buồn thương. Trong mắt nhìn cuả Hàn Mặc Tử, thực tại bây giờ là thực tại vô duyên, lạnh nhạt, thê thiết. Hàn Mặc Tử đã xa lạ với thực tại ấy, đang mất dần những mối quan hệ với thực tại ấy, chẳng thể giữ được điều gì. Hàn Mặc Tử đã đem đến cho thơ ca VN những mới mẻ cuả nghệ thuật Siêu thực. Cảnh sắc mây gió, sông nước, đêm trăng xứ Huế đã thăng hoa thành cái đẹp, cái đẹp vượt trên thực tại, để cùng với cái đẹp hiện thực cuả xứ Huế làm nên tứ thơ lạ lùng, như chưa từng có. Quả thật khó có nhà thơ nào viết được những tứ thơ hay hơn, độc đáo hơn về trăng như dòng sông trăng cuả Hàn Mặc Tử. Bức tranh thiên nhiêu Siêu thực đã làm thay đổi phẩm chất thơ trữ tình Thơ trữ tình Hàn Mặc Tử trở thành thơ trữ tình hướng nội.. Thử so sánh với các nhà thơ khác. Xuân Diệu chiêm ngắm muà thu ở ngoài tâm hồn mình , từ đó cảm nhận cái đẹp khách thể cuả thiên nhiên trong Đây Muà Thu Tới, Huy Cận trải lòng mình trên “ sông dài, trời rộng bến cô liêu “ mà nghe “ lòng quê dờn dợn vời con nước" Tràng Giang . Còn Hàn Mặc Tử lại tự hỏi, con thuyền đậu bến sông trăng kia “có chở trăng về kịp tối nay “.=> phong cách thơ Hàn Mặc Tử tượng trưng, siêu thực .....- Nhạc điệu thơ Hàn Mặc Tử là nhạc điệu của tâm hồn có nhiều trạng thái đặc biệt. Hàn Mặc Tử hay dùng cách kết hợp các từ láy hay chú công trong thanh điệu dể diển tả những khúc nhạc lòng buồn miên man hoặc trầm lắng du dương. Một chữ “mơ” đầy tình tứ trong câu thơ có nhạc điệu chơi vơi “Mơ khách đường xa, khách đường xa”. Du khách hay thôn nữ Vĩ Giạ? Chắc lại là giai nhân mà thi nhân từng mơ ước “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Vừa thực vừa mông. Con người của thực tại hay con người trong hoài niệm? Sương khói của bến sông trăng hay miệt vườn Vĩ Giạ đã làm mờ nhân ảnh của giai nhân? Trong cảnh có tình. Trong tình có màn sương khói, một thứ tình yêu kín đáo, e dè, thiết thaCùng với việc đổi mới câu thơ, đổi mới từ ngữ, Thơ mới có sự vận động tăng cường tầng nghĩa sâu theo "Nguyên lí tảng băng trôi" Hemingway bằng các biện pháp ẩn dụ, chuyển đổi cảm giác, tạo nghĩa gợi ý, ẩn ý, hàm ý. Theo Chế Lan Viên, trong thơ có "bề mặt" ,"bề sâu" và cả "bề xa" nữa. Câu thơ mở đầu bài Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử "Sao anh không về chơi thôn Vỹ" là một câu hỏi phản ánh nội tâm phong phú và tuyệt vời tế nhị. Từ "sao" là từ để hỏi, đặt ở đầu câu như nỗi niềm da diết, bức xúc bị dồn nén quá lâu nay mới được bật ra. Câu thơ có 6 thanh bằng ở đầu, thanh trắc ở cuối vút lên tạo âm điệu đặc biệt nửa như trách cứ day dứt mà nhẹ nhàng, nửa như mời gọi giục giã mà thiết tha. Người hỏi là ai ? Một cô gái hay chính thi sĩ ? Có lẽ cả hai! Hay đúng hơn, chính Hàn Mặc Tử phân thân để tự đối thoại. Từ tấm lòng thi sĩ vút lên câu hỏi khắc khoải vừa thương nhớ Huế, vừa thương nhớ Người. Tình yêu đồng vọng với tình quê khiến hình ảnh thôn Vỹ hiện về tràn ngập tâm hồn thi sĩ. Ở đây, sự giao tiếp của thơ thực hiện vừa bằng cảm xúc, vừa bằng trí tuệ, vừa bằng cả thẩm mĩ các giác quan hòa thơ có cấu trúc rất lạ. Sự việc, con người được kể lại không theo bút pháp kể chuyện, sự vận động cuả hình tượng thơ cũng không phải là nhịp điệu chuyển hoá tâm trạng cuả nhân vật trữ tình. Tuy vậy, ba khổ thơ vẫn liền một mạch. Trước hết có sự liền mạch là do các câu hỏi được lặp lại trong mỗi khổ thơ. Phép lặp cấu trúc tạo nên sự kết nối. Nhưng cái mạch chính cuả bài thơ là ấn tượng cuả Hàn Mặc Tử về cảnh sắc, con người xứ Huế đẹp, thơ mộng, êm đềm. Mỗi khổ thơ là một bức tranh xứ Huế trong những thời gian khoảnh khắc khác nhau. Vườn cây, hàng cau, con thuyền đậu bến sống trăng, thiếu nữ xứ Huế trắng loá trong sương. Ba bức tranh tuy là riêng biệt nhưng vẫn là những nét đẹp đặc thù trong tổng thể đất nước con người xứ Huế . Mạch phát triển tình cảm xuyên suốt bài thơ cũng là mạch thống nhất, đó là tình cảm đằm thắm sâu nặng cuả Hàn Mặc Tử với quê hương xứ Huế, dù cung bậc và sắc thái tình cảm có khác nhau, song tình cảm ấy cuả Hàn Mặc Tử là vẫn là một khối tinh ròng và lấp lánh những sắc màu cuả tình quê hương, tình tự dân tộc, vì thế bài thơ có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn người phát triển thống nhất nhưng có một bước “ nhảy vọt nghệ thuật “ giưã các khổ thơ. Nghiã là mội khổ thơ tồn tại độc lập, không quan hệ với nhau. Dường như còn có vẻ xa lạ với nhau. Chẳng hạn khổ I có nhân vật “ anh “, khổ II có nhân vật “ ai ” và khổ III có nhân vật “ em “. Không thể có một nhân vật trữ tình vưà là em đối thoại với anh, vưà là mình đối thoại với ai, lại vưà là anh đối thoại với em trong cùng một bài thơ. Cũng xa lạ như vậy về bút pháp, khổ I được viết bằng bút pháp hiện thực. Cảnh và người là cảnh thực, thực đến từng chi tiết, chẳng hạn chi tiết lá trúc che ngang mặt chữ điền. Khổ thơ II cảnh không còn là cảnh hiện thực nưã. Hiện thực thăng hoa thành Siêu thực. Người đọc chỉ còn thấy một vài dấu tích cuả hiện thực dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay, con thuyền, dòng sông. Và ngay cả những dấu tích ấy, cũng nhoà đi trong tâm tưởng Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử đang đâu đó khuất trong bóng tối, nhìn ra ngoài kia, thấy rất rõ đường nét, linh hồn cuả mây, gió, sông nước, và dòng sông trăng soi sáng con thuyền chở trăng đang đậu bến. Đến khổ thơ III, Hàn Mặc Tử đã ở nơi xa lắm, ngoài cõi nhân gian, nhìn thấy mình đã “ mờ nhân ảnh “ trong cõi người. Đó không còn là cái nhìn Siêu thức, mà là cái nhìn bằng tâm linh. Chỉ khi linh hồn thoát ra khỏi thân xác, bước vào cõi ánh sáng chói loá nhìn không ra, thì khi ấy mới nhìn thấy con người trần gian mờ mờ nhân Mặc Tử đã đem đến một bút pháp mới lạ cho thơ VN. Từ bút pháp hiện thực, tượng trưng quen thuộc, thơ ca đã đã bước hẳn sang thế giới siêu thực . Hơn thế, Hàn Mặc Tử còn dẫn thơ ca vào cõi tâm linh nhưng lại rất dân dã và hiện thực. Bài thơ tiêu biểu cho Thơ mới, có sự kết hợp giữa tinh hoa thơ trung đại và nét mới mẻ của thơ hiện đại phương Tây. Từ đó thấy rằng thơ mới là một bước tiếp nối, phát triển của thơ ca dân tộc chứ không phải là bước đọan tuyệt với thơ trung đây vừa giới thiệu tới các bạn Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ. Bài viết đã gửi tới bạn đọc dàn ý và các bài văn mẫu. Mong rằng qua bài viết này các bạn có thể học tập tốt hơn môn Ngữ văn 11. Mời các bạn cùng tham khảo thêm các môn Toán 11, Tiếng Anh 11, đề thi học kì 1 lớp 11, đề thi học kì 2 lớp 11...Phân tích nỗi khát khao tình đời và tình người trong bài thơ Đây thôn Vĩ DạHình ảnh thiên nhiên và con người xứ Huế qua bài Đây thôn Vĩ Dạ
Nét cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tốiPhân tích bài thơ Chiều tối để thấy được nét cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối. Sau đây là bài văn mẫu phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối sẽ là tài liệu hữu ích giúp cho các bạn học sinh có thể ôn tập lại kiến thức môn Ngữ văn lớp 8 mẫu cảm nhận bài thơ Chiều tối siêu hayTop 7 mẫu phân tích bài thơ Chiều tối hay chọn lọc1. Dàn ý phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều TốiI. Mở bài- Bài "Chiều tối" trích trong tập thơ "Nhật ký trong tù" là một bài thơ không chỉ mang đến thành công về mặt nội dung mà còn cho thấy tài năng của tác giả về nghệ thuật trong việc sử dụng kết hợp yếu tố cổ điển và hiện Thân bài- Yếu tố cổ điển+ Thể hiện qua hình ảnh thơ quen thuộc Cánh chim, chòm mây, con người.+ Thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình bộc lộ tâm trạng quá thiên nhiên.+ Thể hiện qua thời gian nghệ thuật.+ Thể hiện qua bút pháp điểm xuyết- nhãn tự "hồng".- Yếu tố hiện đại+ Thể hiện qua tâm trạng nhân vật trữ tình buồn mà không bị lụy, hành động và cố gắng.+ Hình ảnh hài hoà giữa thiên nhiên và người lao động, con người nổi bật là trung tâm tác phẩm.+ Tinh thần lạc quan trong gian khó của Bác Hồ.+ Tứ thơ vận động theo sự phát Kết bài- Khái quát về giá trị của bài thơ2. Chỉ ra nét cổ điển và chất hiện đại trong bài thơ Chiều tốiChiều tối là một bài thơ hay tiêu biểu của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ đan xen giữa nét truyền thống và hiện đại nhưng lại không đối lập nhau mà lại gợi cho người đọc những cảm xúc mới mẻ tinh cổ điển trong bài thơ Chiều tốiNhững hình ảnh như cánh chim, chòm mây đều là những biểu tượng rất đặc trưng của thơ ca từ xưa đến nay đã được nhiều tác giả sử dụng. Tuy nhiên không vì thế mà bài thơ trở nên nhàm chán bởi sự khéo léo lồng ghép với yếu tố hiện đại đã làm nên sự mới mẻ của bài thơ Chiều hiện đại trong bài thơ Chiều tốiHình ảnh cô gái xay ngô bên lò than rực hồng trở thành biểu tượng, trung tâm tâm của tác phẩm. Làm nổi bật lên sự vận động của không gian và thời gian. Từ khung cảnh chiều tối ảm đạm, bức tranh sinh hoạt đã gợi lên sự sống, những tia hy vọng mới vào tương Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều Tối - Mẫu 1Chiều tối bài thơ thứ 31 trong tập Nhật kí trong tù. Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại. Chính sự kết hợp tài hoa ấy đã đem lại sự thành công cho tác đẹp cổ điển là vẻ đẹp có sự tiếp nối tinh hoa của văn học trung đại về cấu tứ, thi pháp, thi liệu,… Vẻ đẹp hiện đại là những sáng tạo độc đáo mà chỉ văn học hiện đại mới có. Sự kết hợp này không hề khó, nhưng để tạo nên tính hay, cái đặc sắc thì lại không hề đơn giản. Vậy nhưng bằng ngòi bút tinh tế, bằng tâm hồn rất đỗi thi sĩ, tài hoa Hồ Chí Minh đã có sự phối hợp một cách tài tình chất cổ điển và hiện đại trong bài thơ phẩm mở đầu bằng hai câu thơQuyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên sắc cổ điển trước hết được thể hiện trong hình ảnh cánh chim. Văn học trung đại hình ảnh cánh chim là thi liệu quen thuộc “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” Bà Huyện Thanh Quan hay “Chim hôm thoi thót về rừng” Nguyễn Du. Những cánh chim vào thời điểm trời chiều thường gợi thương, gợi nhớ về một quá vãng đã xa. Mặc dù sử dụng thi liệu cổ, nhưng màu sắc hiện đại trong hình ảnh thơ lại rất rõ nét. Nếu như trong thơ xưa những cánh chim thường bay về nơi vô định, gợi sự xa xăm, chia lìa đôi ngả, hoặc gợi lên sự phiêu dạt, không biết đi đâu về đâu. Cánh chim thường chỉ được miêu tả ở sự vận động bề ngoài. Thì trong thơ Bác cánh chim bay đi không hề vô phương hướng, mà có mục đích “quy lâm tầm túc thụ”. Sau một ngày kiếm ăn mệt nhọc chúng tìm về rừng để lấy chỗ nghỉ ngơi. Không chỉ vậy người đọc còn cảm nhận được cái bên trong, trạng thái của sự vật. Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình trở về với thế giới thực ảnh chòm mây cũng là hình ảnh đậm chất cổ điển, đám mây ấy ta bắt gặp trong câu thơ của Đỗ Phủ “Tái địa phong vân tiếp địa âm” Đỗ Phủ…. Ở đây Bác đã có sự tiếp thu hết sức tài tình. Chữ “mạn mạn” vừa gợi thần thái của cảnh, vừa cho thấy phong thái ung dung rất đỗi thi sĩ của người tù, khi nhìn ngắm quang cảnh thiên nhiên. Chòm mây được miêu tả “cô vân” tức cô đơn, lẻ loi gợi cho người đọc liên tưởng đến hoàn cảnh của Bác lúc bấy giờ cô đơn, lẻ bóng. Bức tranh thiên nhiên hai câu đầu vừa cổ điển, vừa hiện đại, chúng không chỉ đơn thuần là khung cảnh thiên nhiên mà còn là tâm trạng của con người người tù mệt mỏi sau một ngày dài di chuyển nhưng vẫn có tình yêu thiên nhiên tha thiết, qua đó còn ánh lên sự bản lĩnh, kiên cường của người chiến sĩ cách thôn thiếu nữa ma bao túcBao túc ma hoàn, lô dĩ hồngNếu trong thơ cổ thiên nhiên luôn là trung tâm của bức tranh, con người chỉ là một chấm nhỏ trong bức tranh đóLom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhàQua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh QuanThì đến với thơ Bác lại là một điều ngược lại hoàn toàn. Đây chính là nét mới mẻ, hiện đại của bài thơ. Con người – thiếu nữa là trung tâm của bức tranh. Cô gái ấy hiện lên thật bình dị, mộc mạc mà vẫn vô cùng đẹp đẽ với công việc lao động của mình. Tuy công việc có phần cực nhọc, vất vả nhưng ấm áp hơi thở cuộc sống. Hình ảnh người con gái trẻ trung, đầy sức sống đã khiến cho bức tranh mang trong mình một vẻ đẹp nữa, vẻ đẹp của sự khỏe khoắn, tinh thần lạc biệt trong câu thơ cuối hình ảnh lò than đã rực hồng, chữ “hồng” là nhãn tự của bài thơ, không chỉ làm bừng sáng bức tranh cuộc sống, mà còn làm bừng sáng của bài thơ. Hình ảnh lò than chính là tâm điểm của bức tranh. Với hoạt động của con người, với sự xuất hiện của lò than, cuộc sống nơi sơn cước này không còn u tịch, lặng lẽ mà ấm áp, tràn ngập sức sống. Trong nguyên văn, bài thơ không dùng bất cứ chữ tối nào để nói về màn đêm đã buông xuống, nhưng khi đọc ta vẫn cảm nhận được sự vận động của thời gian chuyển từ chiều sang tối hết sức tự nhiên. Lấy ánh sáng để nói về bóng tối, lấy ánh sáng rực hồng của lò than để nói về màn đêm đã buông từ lâu, ánh sáng của lò than trong đêm rực rỡ hẳn lên. Hình ảnh lò than đã rực hồng là một biểu tượng thể hiện niềm lạc quan tin tưởng của Bác vào con đường cách mạng. Sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng cũng chính là quá trình vận động tất yếu của cách thơ chỉ vẻn vẹn với bốn câu thơ nhưng đã cho thấy sự tài hoa của Bác khi kết hợp giữa nét cổ điển và hiện đại tạo nên vẻ đẹp hài hòa, đặc sắc cho bài thơ. Bài thơ đã làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Người, tuy ở hoàn cảnh tù đầy nhưng lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống không bao giờ vơi cạn, Đồng thời còn ánh lên tinh thần sắt đá, niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai cách mạng của người chiến sĩ cách Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều Tối - Mẫu 2"Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh có đóng góp rất lớn vào thành tựu của văn học Việt Nam. Những vần thơ được Bác viết chan chứa tình thần dân tộc, lòng yêu đất nước hoà quyện với tình yêu thiên nhiên, yêu con người lao động. Như Tố Hữu cũng đã từng viết"Vần thơ của Bác vần thơ thépMà vẫn mênh mông bát ngát tình"Chiều tối là một trong những bài thơ xuất sắc nhất được trích từ tập Nhật kí trong tù. Bài thơ không chỉ thành công trong việc tái hiện chân dung người chiến sĩ cách mạng với tinh thần lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào cách mạng mà còn thể hiện được tài năng nghệ thuật xuất chúng của Hồ Chí Minh khi kết hợp yếu tố cổ điển và hiện đại trong cùng một bài thơ, mang đến một "hơi thở" mới cho thơ ca Việt nhất, yếu tố cổ điển trong bài thơ được thể hiện qua những hình ảnh thơ quen thuộc, được sử dụng nhiều trong thơ ca cổ điển. Đó là cánh chim trong một buổi chiều xa xăm, là áng mây trôi nhẹ lững lờ"Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không"Cánh chim mỏi sau ngày dài chao liệng trên bầu trời cũng về rừng ra tìm chốn nghỉ ngơi như con người vậy, sau bao vất vả, mệt nhọc cũng mong có chốn để dừng chân, thư thả. Chòm mây chiều cô độc trôi đi một cách vô định. Cảnh đượm buồn như nỗi lòng người thi sĩ, có mệt mỏi, có buồn thương và cả sự cô đơn lạc lõng nơi đất khách quê người. Bút pháp "tả cảnh ngụ tình" trong thơ cổ cũng được Bác vận dụng đầy sáng tạo, lấy trạng thái của cảnh để bộc lộ những tâm sự, cảm xúc con người, như đại thi hào Nguyễn Du từng nói "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".Phải chăng, lúc này đây, trên con đường giải lao đầy gian khó, những gông cùm trĩu nặng trên đôi vai cùng trạng thái mất tự do về thể xác cũng khiến Bác có chút mỏi mệt, nỗi buồn vương, ưu tư vẫn còn nặng lòng mà mượn cảnh để nói lên những tâm sự của tố cổ điển còn được thể hiện qua thời gian nghệ thuật, đó là buổi chiều. Các nhà thơ xưa thường chọn buổi chiều để nói về nỗi nhớ và nỗi buồn. Cảnh chiều cũng thường gợi cho con người sự trống trải và nỗi khắc khoải trong lòng. Ở bây, Bác cũng đã chọn chiều tối để bộc lộ cảm xúc, dường như đây là khoảng thời gian thật nhất để nhân vật trữ tình thể hiện rõ những nội tâm của chính pháp điểm xuyết trong thơ cổ cũng đc Bác vận dụng đầy tinh tế để làm nổi bật nội dung, tầng tư tưởng của bài thơ. Nguyễn Du trong truyện Kiều cũng đã sử dụng bút pháp này để miêu tả, làm nổi bật sức sống và vẻ đẹp hài hoà của mùa xuân"Cỏ non xanh tận chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoa"Trong Chiều tối, chữ ' hồng" trở thành nhãn tự tạo nên nguồn sáng cho cả bài thơ. Sự xuất hiện của ánh lửa hồng đã xua đi cái lạnh lẽo, trống trải trong lòng người, đồng thời thắp lên ngọn lửa của niềm tin, của sức tố hiện đại được tác giả kết hợp nhuần nhuyễn với yếu tố cổ điển tạo nên nét nổi bật. Yếu tố hiện đại được thể hiện qua tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là một tâm trạng buồn nhưng không bị lụy, luôn lạc quan hướng về phía trước. Dù mệt mỏi nhưng vẫn không ngừng hành động, vẫn sẽ tiếp tục với hành trình của mình sau nghỉ ngơi. Từ hình ảnh thiên nhiên buồn đến hình ảnh con người lao động trong đời , ánh than rực hồng là sự phát triển mới mang tinh thần mới, tinh thần của niềm tin yêu vào một tương lai tươi sáng cho dân tộc, ngày mà mọi người dân được làm chủ cuộc đời mình, lao động sản xuất giữa bầu trời tự do. Yếu tố hiện đại còn được thể hiện rất rõ qua hình ảnh con người trong bài thơ, trong thơ cổ, con người thường rất nhỏ bé thu mình trước thiên nhiên rộng lớn, bao la để đặc tả nỗi cô đơn thì đến với chiều tối, hình ảnh cô em xóm núi hiện lên nổi bật trong lao động, dù công việc rất đỗi bình dị nhưng lại đầy thu hút. Cuối cùng, tinh thần hiện đại thể hiện qua quan niệm sống, cách sống của tác giả Mạnh mẽ đối mặt, vượt qua gian khổ, thách thức, đối mặt với hiện tại khắc nghiệt bằng thái độ lạc quan, hướng về tương lai tương sáng. Trong khó khăn, vất vả, dẫu có đôi lúc mệt nhoài với thực tại sống bác không hề khuất phục, vẫn lạc quan với niềm tin lớn lao. Trong khó nhọc Bác lấy thơ ca làm bạn, lấy lý tưởng làm mục tiêu và lấy ý chí để tranh đã viết bài thơ "Chiều tối" bằng tất cả tình yêu với thiên nhiên, với con người Việt Nam. Từng khoảnh khắc của thời gian luôn được Bác trân trọng, từ "Giải đi sớm", đến "Chiều tối" hay "Ngắm trăng" đều thấy ở Người một tâm hồn rộng lớn với bao phẩm cách cao đẹp. Thơ Bác mãi là ánh sáng soi rọi cho mỗi người, mỗi quê hương dân tộc bước đi và phát Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều Tối - Mẫu 3Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, là người đã chèo lái con thuyền Cách mạng Việt Nam đồng thời Người cũng là một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hoá thế giới. Tuy văn chương không phải sự nghiệp chính của cuộc đời Bác nhưng Hồ Chủ tịch đã để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng lớn các tác phẩm văn thơ có giá trị. Trong đó, "Nhật kí trong tù" là một tập thơ đặc sắc cả về mặt nội dung và nghệ thuật đặc biệt là bài "Chiều tối" với sự kết hợp hết sức hài hòa giữa nét cổ điển và hiện đại."Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa từng khôngCô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng""Nhật kí trong tù" là tập thơ gồm 134 bài thơ chữ Hán được sáng tác trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và đày ải đi khắp các nhà lao. Tập thơ đã thể hiện một cách sinh động phong cách thơ Hồ Chí Minh với sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại. Trước hết, nói đến màu sắc cổ điển trong thơ là nói đến các yếu tố về mặt nghệ thuật và nội dung có sự ảnh hưởng rõ nét của văn chương phương Đông mà chủ yếu là thơ Đường, còn màu sắc hiện đại là những cách tân về mặt nghệ thuật và nội dung mang tinh thần của thời đại. Lý giải về điều này trong thơ Bác, ta có thể hiểu, Hồ Chí Minh vốn xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, cha là nhà Nho, mẹ là người rất am hiểu ca dao, dân ca, nên Bác đã có những kế thừa hết sức tự nhiên. Bên cạnh đó với việc từng học trường Tây và có hơn 30 năm bôn ba nước ngoài, Bác đã học hỏi không ít từ văn học phương Tây và đưa chúng vào trong những tác phẩm của mình. Và với sự tài hoa trong ngòi bút, nét cổ điển và hiện đại ấy đã được kết hợp hết sức hài tiên, nét cổ điển của bài thơ được thể hiện ở văn tự chữ Hán và thể thơ thất ngôn tứ tuyệt - một thể thơ tiêu biểu và quen thuộc của thơ Đường Trung Quốc, thể thơ đòi hỏi sự hàm xúc cô đọng, đó là lý do vì sao bài thơ với chỉ vỏn vẹn 28 chữ cũng đã miêu tả được cảnh vật thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, thi đề của bài thơ - cảnh vật thiên nhiên - cũng là một thi đề khá quen thuộc và được các thi nhân xưa sử dụng khá nhiều."Chim mỏi về rừng tìm chỗ ngủChòm mây trôi nhẹ giữa từng không"Câu thơ mở ra khung cảnh rừng núi lúc về chiều. Cảnh vật có phần hiu quạnh được tác giả gợi ra qua biện pháp ước lệ quen thuộc của thơ cổ và đã nói lên chính xác hoàn cảnh của Bác. Chỉ bằng hai nét bút và điểm nhìn hướng lên cao, người tù đã dễ dàng thu vào tầm mắt mình hình ảnh "cánh chim bay" và "chòm mây trôi". Hai hình ảnh xuất hiện tự nhiên, hài hòa và đăng đối. Bút pháp chấm phá, nghệ thuật ước lệ tượng trưng được vận dụng sáng tạo. Không có bất kì từ ngữ nào chỉ thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được thời gian lúc này là chiều tối. Nhìn chim bay, mây trôi ta cảm thấy bầu trời lúc này bao la hơn, mênh mông, rợn ngợp hơn, nỗi cô đơn cũng vì thế mà tăng theo, cánh chim nhỏ nhoi cũng theo vậy mà nhỏ bé, đơn độc hơn. Bóng tối dường như theo cánh chim phủ lên vạn vật. Câu thơ gợi cho ta nhớ tới hình ảnh cánh chim trong thơ xưa khi tả cảnh chiều tối. Như Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã viết"Chim hôm thoi thót về rừng".Hay bậc nữ lưu tài danh của dân tộc - bà Huyện Thanh Quan cũng viết"Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi".Hoặc Lý Bạch - nhà thơ lớn của Trung Quốc viết trong "Độc tọa Kính Đình Sơn""Chúng điểu cao phi tậnCô vân độc khứ nhàn".Nếu cánh chim xưa của Lí Bạch như bay vút vào không gian, tan biến vào vĩnh hằng thì cánh chim trong thơ Bác chỉ chuyển trạng thái từ bay sang nghỉ ngơi để rồi lại tiếp tục bay. Đến đây, hình ảnh cánh chim lẻ loi và chòm mây cô đơn dường như đang mang theo nỗi lòng tác giả đi tới khắp mọi nơi mà Người đã đi qua cùng với sự đày ải cơ cực, tuy nhiên Người đã không san sẻ nỗi buồn đau của mình cho cảnh vật mà Người lại đồng cảm, hòa hợp với thiên nhiên tạo vật xung quanh mình. Đằng sau bức tranh phong cảnh ấy hiện lên một phong thái ung dung của một con người tuy bị mất tự do nhưng vẫn làm chủ bản thân trong mọi tình huống. Chính những điều này đã cho thấy vẻ đẹp hiện đại của thơ Bác ẩn chứa và hoà hợp ngay trong những thi liệu đậm chất cổ hai câu thơ sau, bức tranh sinh hoạt thường nhật của con người nơi xóm núi đã được tái hiện rất chân thực."Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng"Nếu hai câu thơ đầu có phần ảm đạm hiu quạnh thì hai câu thơ sau với hình ảnh "cô em xóm núi xay ngô tối" đã toát lên một vẻ đẹp khoẻ khoắn, trẻ trung. Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng truyền thống, dùng hình ảnh lò than để nói về bóng tối của không gian vùng sơn cước khi màn đêm buông xuống. Hình ảnh thơ vừa giản dị vừa độc đáo, làm nổi bật nét mới mẻ, hiện đại của bài thơ. Bên cạnh đó, hình tượng thơ cũng luôn vận động, hướng về tương lai, về ánh sáng hình ảnh cánh chim bay, hình ảnh chòm mây trôi, hình ảnh người lao động làm việc hăng say, ngay cả thời gian cũng vận động từ chiều tối cho tới tối hẳn. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng vận động từ cô đơn, buồn bã sang vui tươi, hồ hởi. Cách miêu tả và quan sát của tác giả từ cao đến thấp, từ xa đến gần. Nhãn tự "hồng" của bài thơ có sức lan tỏa lớn. Sắc hồng nóng ấm của lò than đã xua tan đi bóng đêm và sự lạnh lẽo của núi rừng khi chiều tối, nhân lên niềm vui niềm lạc quan của con người, củng cố và mài sắc thêm ý chí của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày nơi xa sự tài hoa trong ngòi bút của Hồ Chí Minh, vẻ đẹp cổ điển và hiện đại đã được hòa quyện hết sức hài hoà và nhuần nhuyễn, tạo nên phong cách thơ ca độc đáo của Bác và góp phần giúp người đọc hình dung đầy đủ và rõ nét chân dung Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, các biện pháp nghệ thuật được sử dụng rất sáng tạo bút pháp chấm phá, ước lệ tượng trưng, vẽ mây nẩy trăng, lấy điểm tả diện, tả thực. Đọc bài thơ, chúng ta cũng cảm nhận được rằng, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh vẫn luôn lạc quan, ung dung tự tại, luôn hướng về phía trước, về tương lai, luôn biết làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh gian khó thơ bốn câu thơ vỏn vẹn 28 chữ với sự tài tình trong ngòi bút Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công bức tranh cảnh vật thiên nhiên và chân dung con người lao động nơi xóm núi. Đồng thời vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối đã mang đến cho tác phẩm cả nét truyền thống và mới mẻ, để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc cho đến mãi về sau Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều Tối - Mẫu 4Thế nào là cổ điển? Chữ “cổ điển” ở đây được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất là từ chỉ những tác phẩm văn học đã được thử thách qua thời gian, được công nhận như mẫu mực, cổ điển là những yếu tố/ tác phẩm nghệ thuật đã đạt tới sự hoàn thiện cao về mặt thẩm mỹ. Thứ hai, cổ điển là một tính từ chỉ lối viết, cách thể hiện đã trở thành một truyền thống văn học. Như vậy, phạm trù cổ điển thuyết minh cho tính ổn định, bền vững, tính gần gũi quen thuộc, giúp ta hiểu thêm sự gặp gỡ, đồng điệu giữa những tâm hồn và sự uyên bác của một nhân cách văn đâu là vẻ đẹp cổ điển của thi phẩm Chiều tối? Nói rộng ra là vẻ đẹp cổ điển của Nhật ký trong tù?Bài thơ Chiều tối được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Đây là thể thơ có ưu thế trong miêu tả tâm trạng, thường tạo ý ở ngoài lời, xây dựng hình ảnh tượng trưng ước lệ, và biểu lộ chủ đề ở một vài nhãn tự. Nhà văn Pháp, Roger Denux từng nhận xét “Thơ Người nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, không phô diễn mà như cố khép lại trong đường nét để cho người đọc tự thưởng thức. Phải yên lặng một mình đọc thơ Người. Phải thỉnh thoảng ngừng lại để suy nghĩ mới cảm thấy hết những âm vang của nó và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài mãi”. Tất cả những đặc điểm đó được thể hiện rõ nhất trong “Chiều tối”.Trước hết phải khẳng định rằng, cái tứ của bài thơ nằm ngay ở nhan đề “Chiều tối”. Cách thức triển khai tứ thơ ấy của tác giả tạo ra cảm giác thời gian đang vận động trời chiều đang chuyển vào đêm, cô em xóm núi xay ngô xong thì bếp lò cũng đỏ rực. Xét theo mạch thơ chữ “hồng” giữ vai trò quan trọng. Chữ“ hồng” gợi không gian ấm cúng, tươi vui yên bình, chất chứa một sức sống mạnh mẽ và làm cho không gian thơ bừng sáng. Tư tưởng nhân đạo và cái nhìn nhạy cảm tinh tế, lạc quan của Bác thể hiện tập trung trong từ này. Do vậy, có thể xem, chữ "hồng" là một nhãn tự.“Chiều tối” gặp gỡ với cổ thi trong nghệ thuật kết cấu câu thơ. Cặp câu nào cũng hài hoà đăng đối. Đó là sự đối lập giữa cánh chim bay mỏi với chòm mây trôi nhẹ, giữa không gian hữu hạn chốn ngủ với không gian vô hạn từng không, đối lập giữa tối và sáng, giữa hai câu thơ đầu miêu tả cảnh vật hắt hiu, tàn tạ với hai câu thơ sau miêu tả con người lao động khỏe khoắn.“Chiều tối” là bài thơ chữ Hán. Từ ngữ Hán Việt tự nó tạo ra vẻ đẹp cổ điển, trang trọng, với hàm nghĩa phong phú, giàu sức gợi. Cảnh thơ trong Chiều tối thâu tóm được linh hồn tạo vật, ở đấy nhân vật trữ tình giàu tình cảm đối với thiên nhiên, hoà hợp tâm hồn với thiên nhiên vũ trụ. Bác không để cho cảnh ngộ đau khổ trói buộc cảm xúc của mình; hồn thơ của Bác vẫn rung động trước thiên nhiên vùng sơn cước đẹp đẽ. Có lẽ vì thế ta bắt gặp sự tương đồng giữa cảnh ngộ tâm trạng của người tù - thi sĩ với trạng thái, hướng vận động của cánh chim trời bay về tổ và đám mây trôi chưa biết dừng nơi nào trong thời khắc một buổi chiều tàn. Trong thơ xưa, chẳng hạn như thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… cảm xúc đó cũng được thể hiện rõ nét. Nhìn chung cảm hứng trước thiên nhiên và ngôn ngữ thơ góp phần tạo tên màu sắc cổ điển của bài thơ sắc cổ điển của bài thơ được thể hiện ở cả thi liệu. Người đọc đã từng gặp trong ca dao, thơ trung đại hình ảnh đám mây trôi qua ngang trời, cánh chim chiều đập cánh vội. Đi giữa miền thơ, ta đã quen lắm với cảnh tượng ở một khung trời miên viễn nào đó, chợt xuất hiện cánh chim lẻ loi. Ngàn đời vẫn vậy xui khiến con người nhớ tới cảnh ngộ cô đơn của mình, từ đó thấm thía về sự xa xăm phiêu bạt của đời người. Thi nhân xưa thường đặt hình ảnh cánh chim trong tương quan với bầu trời, đám mây, ngọn gió. Đặt trong tương quan với bầu trời để cảm hết được cái rộng dài hun hút của không gian, trong tương quan với đám mây để gợi cảm giác chia li, và phải đặt trong quan hệ với ngọn gió mới thấy hết được cái khó khăn, vất vả của cánh chim đang đập cánh vội Thơ Vương Bột, Lí Bạch, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan…Trong phép làm thơ Đường luật, câu thơ đầu của bài thơ thường phải nói rõ được đề tài. Đề tài của bài thơ là “chiều tối”. Câu khai của bài thơ quả thực đã giới thiệu được rất cụ thể khoảnh khắc thời gian đặc biệt trong ngày. Chiều tối vừa là thời gian vật lí vừa là thời gian tâm trạng. Hình ảnh cánh chim bay về tổ ở đây không thể thuộc về một thời gian nào khác khoảnh khắc ngày tàn. Câu thừa của bài thơ tiếp tục làm nổi bật không khí của buổi chiều muộn nơi xóm núi. Thực ra mây trên trời lúc nào cũng có, song phải là đám mây với dáng vẻ hiu hắt, chậm chạp riêng biệt đó mới phù hợp với không khí buổi hoàng hôn. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được tạo nên bởi đề có lẽ việc sử dụng bút pháp nghệ thuật quen thuộc trong thi ca xưa mới là bằng chứng sinh động nhất về vẻ đẹp cổ điển đặc sắc của tác phẩm Chiều tối. Bút pháp chấm phá tinh tế tạo ra những câu thơ nhiều tầng nghĩa, mở ra nhiều kiểu liên tưởng trong tâm tư người đọc, cùng bút pháp tả thực tự nhiên giàu chất họa khiến cho cảnh vật hiện lên trong bài thơ với những đường nét rất có thầnQuyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên khôngSơn thôn thiếu nữ ma bao túcBào túc ma hoàn lô dĩ hồngTrong nguyên tác không có chữ "tối'. Câu thơ dịch thêm từ “tối” làm cho ý thơ hơi lộ. Dụng ý của tác giả chỉ muốn người đọc cảm thấy trời tối thôi chứ không thông báo trực tiếp thời gian, không gian tối. Dùng ánh sáng để tả bóng tối, không nói tối mà tả được tối đấy là biểu hiện của thủ pháp "hoạ vân hiển nguyệt" thường thấy trong thơ Đường. Âm vang của thơ Đường trong Chiều tối còn biểu hiện ở chỗ, nhà thơ xây dựng các mối quan hệ, người đọc phải bằng liên tưởng của mình khám phá ra sự thống nhất giữa chủ thể trữ tình và thiên tối cũng sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Cảnh vật thiên nhiên như cùng tâm trạng với con người, đồng điệu với tâm hồn con người. Câu khai phác họa cánh chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn giờ đang về rừng tìm chốn đậu. Hình ảnh đó gợi ta nhớ tới một người tù bị cùm xích, bị giải suốt một ngày ròng rã đương khao khát chốn nghỉ ngơi yên bình. Thêm nữa, chi tiết chòm mây cô đơn giữa một không gian vắng vẻ… rất tương ứng với cảnh ngộ của chủ thể trữ tình chưa biết dừng lại, hay tới nhà lao nào. Cánh chim, chòm mây vừa là đối tượng của niềm thương cảm vừa là biểu hiện bên ngoài của nỗi buồn trong lòng người tù trên con đường đày ải. Hai câu cuối cảm hứng thơ chuyển sang một hướng khác cảnh thiên nhiên buồn nhường chỗ cho cảnh đời bình dị, tươi sáng. Tâm trạng, hướng nhìn của nhà thơ cũng đổi thay theo từ buồn sang vui. Nếu thiên nhiên trong hai câu thơ đầu nói hộ tâm trạng của Hồ Chí Minh sau một ngày chuyển lao mệt mỏi, thì bức tranh phong cảnh trong hai câu kết lại gói ghém khát vọng tự do. Nhìn chung bức tranh ngoại cảnh được nội tâm hoá trở thành tâm cảnh. Nguyễn Du từng nói “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trong trường hợp này, điều đó rất thơ xưa gắn với thời gian buổi chiều thường có hình ảnh một người lữ thứ tha hương Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà,Hoàng Hạc lâu…. Nhân vật trữ tình của bài thơ Chiều tối là một con người như vậy cô đơn mỏi mệt, trong lòng không lúc nào nguôi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ đồng bào, đồng chí câu 1. Tác giả không cần tả nhiều nhưng vẫn gợi được ở người đọc nhiều cảm xúc. Bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh kín đáo thể hiện niềm khát khao được tự do, sum họp, được trở về quê hương của người tù trên đất khách. Cách cấu tứ của bài thơ, vì thế, cũng mang màu sắc cổ điển.“Chiều tối” không chỉ có màu sắc cổ điển mà còn thể hiện tinh thần hiện nào là hiện đại? Tính hiện đại của tác phẩm văn chương biểu hiện phong phú, trước hết và có lẽ rõ rệt nhất trong sự đổi mới tạo ra những nét riêng, không lặp lại. Một tác phẩm văn chương mang trong mình tinh thần của thời đại, phản ánh quan điểm nghệ thuật, hệ giá trị và ý thức tư tưởng của con người trong xã hội mà nó nảy sinh, thậm chí vượt trước thời đại … đều được gọi là tác phẩm mang màu sắc hiện đại. Phạm trù hiện đại giúp ta phân biệt thế giới nghệ thuật này với vũ trụ nghệ thuật khác, xác định cá tính sáng tạo trong văn học ở những thời đại, giai đoạn khác hiện rõ rệt nhất của tính hiện đại trong bài thơ là hai câu cuối. Thơ tứ tuyệt Đường luật tạo bất ngờ cho người đọc ở câu chuyển. Câu chuyển bất ngờ nhưng phải tự nhiên hợp lí. Bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh đạt được phẩm chất cổ điển này. Sự chuyển đổi bất ngờ thể hiện ở chỗ mạch thơ vận động hướng về mặt đất, sự sống và ánh sáng, thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng. Nói tính hiện đại được thể hiện ngay trong vẻ đẹp cổ điển là như ở thơ cổ con người thường ẩn đi trong thiên nhiên,thiên nhiên là chủ thể, thì con người và sự sống trong thơ Bác lại hiện ra, chiếm vị trí chủ thể trong bức tranh phong cảnh. Con người lao động được khắc hoạ qua cái nhìn lạc quan của Bác có vẻ đẹp bình dị khoẻ khoắn, trở thành nhân vật chính của bức tranh. Người đọc nhận thấy Trong bất kì hoàn cảnh nào, chủ thể trữ tình cũng giữ được phong thái ung dung tâm hồn phóng khoáng, dường như tác giả quên hẳn cảnh ngộ của mình để đồng cảm với nỗi vất vả, với niềm vui nhỏ nhoi, đời thường của người lao động. Hình ảnh cô gái xóm núi và lò than rực hồng tỏa ấm, toả sáng là cảnh của một tâm trạng hào hứng, tươi vui. Ánh sáng lò lửa nhỏ không chỉ sưởi ấm tâm hồn Bác lúc bị lưu đày, mà còn có tác dụng nhóm lên trong lòng người đọc niềm tin bền bỉ vào cuộc sống. Đó là biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo cao cả, biểu hiện độc đáo của chất nhìn nghệ thuật của bài thơ cũng khá tiêu biểu cho phong cách thơ hiện đại của Hồ Chí Minh. Trong thơ xưa không gian trên cao chiếm ưu thế. Nhưng ở “Chiều tối” những quan sát về mặt đất dần thay thế hướng nhìn lên bầu trời. Thơ của Bác thường tập trung thể hiện mọi buồn vui trong cuộc sống con người, Bác đưa vào cảnh thiên nhiên vĩnh cửu của thơ xưa một nội dung xã hội cụ tối viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt nhưng cơ bản không theo lối tư duy hướng về các mẫu mực cổ xưa. Ở đây tác giả hướng người đọc vào tương lai và hiện thực trước mắt, hướng về quần chúng lao động. Theo Hoài Thanh, chữ "hồng" trong câu thơ kết có hai nghĩa, nghĩa đen là màu sắc thực của ánh sáng lò than, nghĩa bóng là màu cách mạng, màu của chiến thắng, của tương lai. Nếu thiên về cách hiểu sau, chúng ta thấy sự vận động của hình tượng thơ, xét đến cùng là sự vận động của cách mạng. Tính hiện đại của bài thơ là ở đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối cùng hòa quyện rồi tạo nên sức sống lâu bền, sức hấp dẫn của tập thơ Nhật kí trong tù nói chung và bài thơ này nói câu thơ đầu tả không gian núi rừng rộng lớn, nhưng lại gợi thời gian chiều tối. Giọng the nhẹ nhàng, nhịp thơ thong thả. Hình ảnh thơ đậm tính ước lệ, người đọc tưởng như tác giả tả cảnh theo công thức có sẵn cứ nói tới chiều thì nhắc tới chim bay về tổ, mây trôi lững lờ… Thực ra, sự xuất hiện của hình ảnh cánh chim mỏi mệt và chòm mây cô đơn rất hợp với qui luật tự nhiên của cảnh chiều, đồng thời hài hòa với tâm trạng của người tù sau một ngày đi đường mệt mỏi đang bơ vơ nơi đất khách quê người. Nghĩa là ở đây, tác giả miêu tả cảnh thiên nhiên một cách chính xác đúng như cảnh thật mà mình quan sát, cảm nhận được. Qua những nét vẽ thấm đượm phong vị Đường thi ấy, ta vẫn thấy ánh lên nét đẹp riêng của hồn thơ Hồ Chí Minh. Thiên nhiên trong thơ Bác không chết lặng mà chứa đựng biết bao dấu hiệu của sự sống. Giữa bầu trời cao rộng, chòm mây dẫu nhỏ bé đơn độc nhưng vẫn cứ chậm trôi. Nó không đứng lặng chơi vơi cả nghìn như đám mây trên “Lầu Hoàng Hạc”. Hình ảnh cánh chim chiều cũng thế, dẫu mệt mỏi vẫn không mất hút vào vô tận như trong thơ cổ"Nghìn non chim hết vẫy vùngVắng tanh muôn nẻo tuyệt không dấu ngườiÁo tơi nón lá ông chàiCon thuyền giữa tuyết ngồi hoài buông câu"Giang tuyết - Liễu Tông NguyênCánh chim trong thơ Liễu Tông Nguyên mất hút giữa không gian bao la vô cùng, dường như nó không hề tìm thấy nơi trú ẩn giữa ngàn núi trùng điệp. Trong Chiều tối của Nguyễn Ái Quốc, cánh chim mệt mỏi, nhưng vẫn có đường bay xác định, nó quay trở về khu rừng quen thuộc tìm tổ ấm. Chủ thể trữ tình trong Chiều tối như quên mình là tù nhân, quên nỗi nhọc nhằn vất vả để hòa mình vào thiên nhiên, yêu thương trìu mến với cảnh vật, nâng niu, thiết tha với từng dấu hiệu của sự sống. Một sức mạnh tinh thần như thế chỉ có thể bắt nguồn từ một tâm hồn chiến về tứ thơ. Ta thấy, tứ thơ được mở ra bằng khung cảnh vắng vẻ, thấm đẫm nỗi buồn, nỗi cô đơn của người xa xứ. Người đọc tưởng sẽ khép lại bằng hình ảnh bóng tối, bằng niềm thương thân, than thân, xót thân của chủ thể trữ tình, nhưng thật bất ngờ cảnh tràn đầy hơi ấm của tình đời, tình người toả lan từ hồn thơ Hồ Chí Minh. Từ hai câu đầu đến hai câu kết không chỉ là sự chuyển cảnh mà còn thay đổi về bút pháp từ ước lệ sang tả thực, hình ảnh thơ cổ điển sóng đôi với vẻ đẹp hiện đại, cái giản dị chân thực của cuộc sống đời thường hài hoà với cái trang trọng, thanh cao. Nói khác đi, Chiều tối góp phần xác nhận một bản sắc thơ độc đáo trong đó có sự hài hoà tinh tế giữa thi pháp văn học phương Đông cổ điển với những dòng chảy của thi ca hiện đại. Hoàng Trung Thông rất đúng khi cho rằng “Thơ Bác rất Đường mà lại không Đường”.Vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của thi phẩm thống nhất trong một kiểu tư duy nghệ thuật mới. Nếu không phải là một người ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán, thơ phú Đường Tống, hấp thụ nhuần nhuyễn văn hoá phương Đông, không phải là một người hoạt động cách mạng, một kiểu nhà văn mới, nhà văn chiến sĩ am hiểu văn hoá phương Tây, thì chắc chắn thế giới thi ca sẽ không có được vẻ đẹp riêng, độc đáo Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều Tối - Mẫu 5Tuy văn chương không phải là sự nghiệp chính của cuộc đời nhưng với di sản thơ ca phong phú để lại cho đương thời và hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hóa lớn không chỉ của Việt Nam mà của toàn nhân loại. Rất nhiều bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn Đường luật, trong đó sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và hiện đại đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ Người. Điều đó thể hiện rõ nét qua nhiều bài thơ, tiêu biểu là bài “Mộ” - “Chiều tối” rút từ tập “Nhật ký trong tù”, tập thơ sáng tác trong hoàn cảnh tác giả bị giam cầm tại nhà lao của chính quyền Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu đến màu sắc cổ điển trong thơ là nói đến những yếu tố về nội dung và thi pháp có sự ảnh hưởng rõ nét của thơ phương Đông – chủ yếu là thơ Đường Trung Quốc, vốn được coi là mẫu mực về đề tài, thể loại, bút pháp, thi liệu. Do đâu thơ Hồ Chí Minh lại đậm đà chất cổ điển? Bác vốn xuất thân từ một gia đình Nho học. Ông ngoại và phụ thân của Bác vốn là những bậc túc nho nổi tiếng đương thời nên người con ưu tú của gia đình, con người Việt Nam đẹp nhất ấy đã tiếp thu, kết tinh được vẻ đẹp truyền thống của nền văn hóa cổ phương Đông. Với tâm hồn phong phú, trí tuệ anh minh, lại giỏi chữ Hán và am hiểu sâu sắc thơ Đường, thơ Người vì thế đậm đà chất cổ điển. Điều đó được thể hiện giàu cảm hứng với thiên nhiên, bút pháp chấm phá như ghi lấy linh hồn của tạo vật, ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc ý tại ngôn ngoại. Bên cạnh đó, đã sống và làm việc, tiếp xúc với văn minh phương Tây, hồn thơ ấy rất sáng tạo và hiện đại, biểu hiện ở tính chất dân chủ của đề tài, hình tượng thơ luôn vận động khỏe khoắn hướng về ánh sáng và tương lai, chủ thể trữ tình hòa hợp với thiên nhiên nhưng không là ẩn sỹ mà là chiến sỹ. Điều đáng nói là chất cổ điển và hiện đại luôn hài hòa trong thơ của Hồ Chí Minh mà bài thơ Chiều tối là một sáng tác tiêu bài, mỗi hình ảnh thơ luôn có sự vận động kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại. Hình ảnh tuy mang dáng dấp của thi liệu thơ cổ nhưng ý thơ, cảm hứng thơ và nhân vật trữ tình lại hoàn toàn hướng về ánh sáng, hướng tới thiên nhiên và cuộc sống con người. Hai câu thơ đầu mở ra không gian cảnh núi rừng khi chiều tốiQuyện điểu qui lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên khôngChim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng khôngCảnh được gợi lên qua bút pháp ước lệ quen thuộc của thơ cổ đồng thời nói lên thật đúng hoàn cảnh của Bác và mang những nét mới. Người đọc có thể hình dung cảnh người tù đang bị áp giải ngẩng mặt lên trời quan sát cảnh vật, nhận ra cánh chim bay và chòm mây trôi ngang qua bầu trời. Cảnh đó phảng phất một nỗi buồn hiu quạnh. Nửa đầu bài tứ tuyệt này, người đọc được chiêm ngưỡng một bức tranh thiên nhiên có đường nét cánh chim bay tìm về tổ, có hình ảnh chòm mây trôi lững lờ. Những hình ảnh này xuất hiện thật tự nhiên, vừa song hành vừa đăng đối. Không có một chữ nào chỉ thời gian nhưng người đọc cảm nhận ngay được thời gian lúc này là chiều muộn. Chỉ bằng mấy nét chấm phá, tả rất ít nhưng lại gợi nhiều, tác giả tái hiện được cả linh hồn của cảnh vật Cánh chim bay về rừng tìm chốn ngủ với dáng điệu mỏi mệt và đám mây lẻ loi trôi chầm chậm giữa lưng trời. Nghệ thuật đối ngẫu, một nét đặc trưng của thơ cổ, càng làm nổi bật dáng chim nhỏ nhoi và vũ trụ rộng lớn lúc hoàng hôn. Cánh chim ấy dường như mang bóng tối đang phủ dần lên cảnh vật. Câu thơ mang đậm phong vị cổ thi. Bởi khi tả cảnh chiều tối, các thi nhân xưa vẫn thường dùng hình ảnh cánh Du, ngôi sao sáng chói trong bầu trời thơ ca Việt Nam thời Trung đại, trong kiệt tác Truyện Kiều đã viết “Chim hôm thoi thót về rừng”. Và Bà Huyện Thanh Quan, bậc nữ lưu tài danh của dân tộc sống ở thế kỷ XIX, trong thi phẩm “Chiều hôm nhớ nhà” cũng viết “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”. Những áng cổ thi ấy đều dùng cánh chim tả cảnh chiều tà buồn vắng, hiu quạnh. Lí Bạch, bậc Tiên thi đời Đường ở Trung Quốc khi tả không gian trong bài Độc tọa Kính Đình sơn đã viết “Chúng điểu cao phi tận – Cô vân độc khứ nhàn” nghĩa là Các loài chim bay cao hết/ Đám mây cô đơn nhàn hạ trôi. Cánh chim của Lí Bạch xưa dường như bay vút vào không gian, như tan biến vào cõi vĩnh hằng. Còn cánh chim trong thơ Bác không bay đi hết, nó chỉ chuyển trạng thái từ bay sang ngơi nghỉ để rồi lại tiếp tục chu trình tuần hoàn của sự sống. Còn hình ảnh chòm mây trôi nhẹ, lời thơ Nam Trân dịch đã uyển chuyển linh hoạt nhưng vẫn chưa lột tả được chữ “cô vân” - đám mây lẻ loi và chưa thể hiện được ý nghĩa của từ láy “mạn mạn” trong nguyên tác. Điều đó chứng tỏ ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh vô cùng hàm đây, cánh chim bay mỏi và chòm mây cô đơn dường như mang theo cả nỗi lòng của tác giả, một người tù đang bị đày ải “giải tới giải lui” khắp mười ba huyện ở tỉnh Quảng Tây, nơi đất khách quê người lạ lẫm - có hôm tới 53 cây số một ngày - phía trước lại là một nhà tù khác đang chờ đón. Thế nhưng tác giả không san sẻ cho cảnh vật nỗi niềm buồn đau của cảnh ngộ mình đang phải từng trải. Trái lại, Người đã quên mình để sẻ chia, đồng cảm, hòa hợp với thiên nhiên tạo vật xung quanh. Đằng sau bức tranh phong cảnh ấy là một phong thái ung dung của một con người đang khao khát tự do, tuy bị mất tự do nhưng vẫn làm chủ mình, làm chủ hoàn cảnh ở mọi tình huống. Cũng chính điều này còn cho thấy vẻ đẹp hiện đại của thơ Hồ Chí Minh ẩn chứa và hòa hợp ngay trong những thi liệu thơ đậm chất cổ sau của bài thơ đã tiếp nối mạch thơ ở phần trên thật tự nhiên, tái hiện bức tranh lao động và sinh hoạt thường nhật của con người nơi xóm thôn thiếu nữ ma bao túcBao túc ma hoàn lô dĩ hồngCô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồngNếu bức tranh thiên nhiên phần đầu bài thơ có phần ảm đạm, buồn vắng quạnh thì phần thơ cuối này hoàn toàn ngược lại Cô gái xóm núi xay ngô bên bếp lửa đã toát lên một vẻ đẹp khỏe khoắn, trẻ trung và ấm áp. Điều thú vị là tác giả đã dùng nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng, lấy ánh sáng của lò than để nói về bóng tối của không gian vùng sơn cước lúc màn đêm buông xuống. Trời không tối, làm sao thấy được hình ảnh “lô dĩ hồng”. Hình ảnh thơ này thật bình dị và cũng rất sáng tạo, thể hiện nét mới, chất hiện đại của bài thơ. Hơn nữa trong bài, hình tượng thơ không tĩnh tại như thường gặp trong thơ cổ mà có sự vận động hướng về ánh sáng, về tương lai. Bài thơ rất phong phú về sự vận động vận động của cánh chim, vận động của chòm mây, vận động của con người đang làm việc hăng say. Và ngay cả thời gian trong bài cũng vận động từ chiều muộn cho đến tối hẳn. Tâm trạng nhân vật trữ tình cũng có sự vận động từ mỏi mệt, lẻ loi, lạnh lẽo sang vui tươi, ấm nồng cùng cảnh vật và con người. Cách miêu tả và quan sát trong bài của tác giả từ hướng ngoại sang hướng nội, từ cao đến thấp, từ xa đến gần. Trong thi phẩm, chữ “hồng” chính là nhãn tự, là điểm sáng của cả bài thơ có sức lan tỏa lớn. "Lô dĩ hồng" đã diễn tả được thời gian vận động rất tự nhiên của cảnh vật. Sắc hồng của lò than đang đượm đã xua đi bóng đêm và sự lạnh lẽo của núi rừng lúc chiều tối, lan tỏa hơi ấm ra xung quanh, nhân lên niềm vui, niềm lạc quan của con người, nó củng cố và mài sắc thêm ý chí của người chiến sỹ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày nghiệt ngã nơi xa xứ. Nghệ thuật ở hai câu cuối bài còn có một nét đặc sắc khác rất đáng lưu ý. Giữa câu thơ thứ ba và câu bốn có những cụm từ lặp lại theo hình thức đảo ngược “ma bao túc” và “bao túc ma hoàn”. Hình thức này đã tạo nên kết cấu vòng tròn giữa hai câu thơ, gợi lên sự cảm nhận về vòng quay đều đều của chiếc cối xay ngô và từ vòng quay ấy gợi lên sự luân chuyển của thời gian tuần tựTrước cảnh vật và cuộc sống con người nơi xóm núi, trong lòng tác giả dâng lên dạt dào cảm xúc. Qua đó, người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh tha thiết yêu thiên nhiên, cuộc sống, con người. Hai câu thơ sau khiến người đọc vô cùng cảm động bởi đã ghi lại cảnh sinh hoạt quen thuộc, bình dị của một gia đình nơi xóm núi. Điều đó chứng tỏ trong hành trình hoạt động cách mạng, toàn tâm toàn trí vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, nhưng trong trái tim Bác Hồ vẫn có một khoảng dành cho tình cảm gia đình. Về tấm lòng yêu đời của Người ở hai câu thơ cuối, Hoài Thanh đã nhận xét “Một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn, vất vả mà vẫn ấm cúng, đáng quý, đáng yêu. Những hình ảnh như thế không thiếu gì chung quanh ta nhưng thường nó vẫn trôi qua đi. Không có một tấm lòng yêu đời sâu sắc không thể nào ghi lại được”.Chiều tối chỉ vẻn vẹn bốn câu thơ thất ngôn song đã cho thấy tâm hồn vô cùng cao đẹp và tài năng văn chương của Bác. Sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại đã mang đến cho bài thơ một vẻ đẹp vừa truyền thống vừa mới mẻ. Đây cũng chính là một trong những yếu tố làm nên đặc sắc nghệ thuật thơ Đường luật của Hồ Chí Minh - con người của tương lai ấy - luôn hướng về thiên nhiên, cuộc sống, con người với sự đồng cảm và trân trọng “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của khảo thêmNgày Thần Tài là ngày nào 2021? Đồ lễ cúng vía Thần tài Ngày vía Thần tài năm Tân Sửu 2021Văn khấn lễ tạ mộ cuối năm 2022 Văn khấn tảo mộ cuối nămMẫu nail Tết 2022 Nail Tết 2022 đơn giản đẹp nhẹ nhàngÝ nghĩa mâm ngũ quả ngày Tết Ý nghĩa các loại quả trong mâm ngũ quả ngày TếtTop 40 mẫu mở bài Vợ chồng A Phủ hay Mở bài tác phẩm Vợ chồng A PhủCách viết sớ cúng Tất niên 2023 Mẫu sớ cúng Tất niênCác ngành Công an tuyển nữ 2023 Nữ nên thi vào ngành Công an nào?Top 17 mẫu nghị luận về vấn đề bạo lực học đường hay nhất Nghị luận về tệ nạn xã hội trong học đường
cổ điển và hiện đại